15 ngày cầu nguyện với cha Olier

TIN BÀI KHÁC


LƯU Ý ĐỘC GIẢ
Chúng tôi đã chọn bắt đầu hành trình thiêng liêng này bằng những gì đánh động sâu xa đời sống thiêng liêng của cha Jean-Jacques Olier : mối tương quan của ngài với Chúa Ba Ngôi, với Giáo Hội, đời sống tông đồ của ngài, đơn giản bởi vì những chủ đề này đối với chúng tôi dường như cấu thành nền tảng của tất cả chủ đề khác. Chỉ tiếp theo đó mà chúng tôi sẽ đề cập những chủ đề chạm đến những giai đoạn lớn trong đời sống thiêng liêng của cha sở giáo xứ Saint-Sulpice, thử thách của ngài, cuộc chiến đấu thiêng liêng, kinh nghiệm chữa lành, trước khi kết thúc bằng những đường hướng lớn của đường lối sư phạm thiêng liêng của ngài mà chính ngài đã sống cách mãnh liệt.
Vì sự sắp xếp này, nên độc giả sẽ có hứng thú đọc cách chăm chú bản tóm tắt tiểu sử của cha Olier nằm ngay sau phần giới thiệu này, trước khi bắt đầu con đường cầu nguyện của mình.
Các bản văn được lấy lại dùng cho việc suy niệm đôi khi phô bày những khó khăn hay, ít ra, tạo ra một sự lạ lẫm bỡ ngỡ. Ngôn ngữ và văn hóa của thế kỷ XVII không phải là ngôn ngữ và văn hóa của thời đại chúng ta. Mỗi khi có một từ không thể được hiểu ngay lập tức, chúng tôi liền ghi chú sau nó một từ đồng nghĩa nằm trong ngoặc đơn (*). Chúng tôi không muốn chuyển sang nghĩa chung chung của tiếng Pháp hiện đại, vì sợ phản bội các bản văn và tước đi khỏi chúng một phần hương vị của chúng. Nhưng theo thói quen, chúng tôi đã lấy lại những bản văn như chúng được viết ra, hoặc là trong những tác phẩm được xuất bản, hoặc là trong những đoạn trích in rônêô. Một số bản văn đã là đối tượng của những thích nghi mà chúng tôi đã trông chừng. Chúng không thay đổi ý nghĩa của các bản văn và chúng làm cho dễ tiếp cận với các bản văn hơn.
Dù sao đi nữa, những bản văn này chỉ để lộ sự phong phú bên trong của chúng với điều kiện có sự suy niệm kiên nhẫn nào đó. Chúng tôi hy vọng rằng các độc giả có được sự nỗ lực này sẽ được đền bù lại.
Bernard Pitaud
————————————

(*) Trong bản dịch Việt ngữ, chúng tôi đã dùng những từ ngữ trong ngoặc đơn.
======
 JEAN-JACQUES OLIER LÀ AI ?
Cha Jean-Jacques Olier sinh ngày 20 tháng Chín năm 1608 tại Paris, trong phường Marais, nơi gia đình của ngài sở hữu một khách sạn riêng. Cha của ngài thuộc về tầng lớp quý tộc pháp đình và hành nghề quan tòa. Rất sớm, Jean-Jacques  đã được gia đình dự định cho sự nghiệp giáo sĩ. Mẹ ngài, người mà ngài đã có những khó khăn trong suốt cuộc đời của mình, mơ ước cho ngài trách vụ tuyên úy của Vua, điều sẽ mở ra cho ngài cánh cửa làm Giám mục.
Là đứa trẻ thông minh, thế nhưng ngài đã tỏ lộ một sự mỏng manh tâm lý nào đó, được thể hiện bằng một khuynh hướng ái kỷ thái quá, điều mà về sau ngài sẽ gọi là « tính kiêu căng » của mình ; ngài dễ dàng trở nên trung tâm của mọi sự.
Vào năm 1617, cha ngài được bổ nhiệm làm giám sát toà án của nhà Vua (1) ở Lyon. Trở lại Paris cùng với gia đình của ngài một vài năm sau, Jean-Jacques đã theo đuổi « chương trình văn chương cổ ngữ học » và bắt đầu việc nghiên cứu giáo sĩ của mình ở Sorbonne. Ngài đã được cấp bổng lộc của đan viện Pébrac ở Auvergne và từ những tu viện khác. Ngài là một học sinh sáng giá, nhưng cũng như nhiều tu viện trưởng non trẻ thời bấy giờ, ngài đã tỏ ra khá trần tục và không bận tâm tương xứng cách nội tâm với trách vụ mà ngài có tham vọng.
Ngài nhận biết sự hoán cải đầu tiên của ngài nhờ một phụ nữ, bà Marie Rousseau, một nhà thần bí mà tiếp đến đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của ngài, và là người, một ngày kia, đã chất vấn ngài đang khi ngài đang ở cùng với các bạn bè của ngài trong một quán rượu ở phường Saint-Germain (2). Lúc đó ngài đã bắt đầu phản tĩnh và tự vấn về phẩm chất của cuộc sống của mình, thế nhưng vẫn không thể tự quyết định thay đổi cuộc sống tận căn.
Chính ở Ý mà ngài hoán cải thực sự ; đi Rôma để học tiếng Hy bá và cũng có thể để thoát khỏi một vài ảnh hưởng, ngài đã bị mắc chứng bệnh  mất thị giác. Ngài đã đi hành hương ở Lorette. Ở đó, ngài đã được chữa lành, nhưng đặc biệt ngài đã bị xâm chiếm bởi lòng khao khát cầu nguyện và tinh thần truyền giáo mà ngài đã không biết.
Trở lại Paris khi cha ngài vừa qua đời, ngài bắt đầu sống một đời sống nội tâm nhiều hơn, điều làm cho mẹ ngài lo lắng. Ngài tự đặt mình dưới sự hướng dẫn của cha Vincent de Paul (3) và trở nên gần gũi với người nghèo. Chịu chức linh mục năm 1633, ngài tham dự vào công việc truyền giáo mà cha Vincent đã khởi sự tổ chức xuyên qua các làng quê ở Pháp.
Chính trong một trong những cuộc ra đi truyền giáo của mình mà ngài đã gặp Mẹ Agnès vào năm 1634, tu viện trưởng của các nữ tu Đa Minh của tu viện Langeac, người đã đặt ngài trên con đường khiêm tốn và đón nhận lòng thương xót.
Một biến cố quyết định đã xảy đến đối với ngài vào năm 1636 : ngài thay đổi cha linh hướng và đã xin cha Charles de Condren, vị kế nhiệm của Hồng Y Bérulle đứng đầu Hội Thuyết Giảng, đồng hành với ngài. Cha Condren đã giúp cha Olier kinh nghiệm hoạt động của Thánh Thần nơi ngài. Lúc ấy ngài bắt đầu cảm nghiệm những gì sẽ trở nên điệp ngữ thiêng liêng của ngài : buông mình cho Chúa Thánh Thần.
Nhưng, để có thể hiến mình cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội hoàn toàn, ngài còn phải giải phóng mình khỏi tính kiêu căng đang quấy rầy ngài, đang ngăn trở ngài đi thẳng đến Thiên Chúa, đang kìm giữ ngài lệ thuộc vào cái nhìn của người khác. Giữa tháng Mười năm 1639 và lễ Phục Sinh năm 1641, ngài đã trải qua một sự trầm uất thiêng liêng thực sự, thời gian mà ngài cảm thấy bị mọi người bỏ rơi và ngày cả Thiên Chúa, Đấng mà cho đến lúc đó đã đổ đầy lòng ngài những an ủi. Thời gian đêm tối rất khổ sở mà ngài đã suýt bị cám dỗ tuyệt vọng, đang khi mà những ảo ảnh kiêu căngquấy nhiễu ngài mãnh liệt hơn.
Tại Chartres, vào lễ Phục Sinh 1641, ngài đã được chữa lành ; lúc ấy, như ngài nói, ngài đã bắt đầu thở và cười. Ngài đã phó tháctính kiêu căng của mình trong đôi bàn tay của Thiên Chúa, ngài đã chấp nhận hiện diện trước nhan Người như kẻ nghèo hèn, với điểm yếu này nơi ngài và không còn là một chướng ngại cho việc đi đến với Thiên Chúa và mối tương quan với tha nhân nữa.
Từ đó, ngài tự do ; cùng với một vài người bạn, ngài đã bắt đầu chuẩn bị một vài linh mục tương lai cho thiên chức linh mục ở Vaugirard ; rồi một cơ hội xảy đến cho ngài : người ta đề nghị ngài làm cha sở của giáo xứ Saint-Sulpice ; ngài đã chấp nhận, điều đã gây ngạc nhiên nhiều cho những người thân cận của ngài, đặc biệt là mẹ của ngài, vì thật không thích hợp cho một người quý tộc lãnh nhận trách nhiệm một giáo xứ ngoại ô như thế, dù nó nằm trong vòng ảnh hưởng của tu viện danh tiếng Saint-Germain-des-Prés.
Hầu như ngay lúc ấy, bên cạnh giáo xứ, ngài đã thành lập chủng viện Xuân Bích, được phát triển rất nhanh và trở nên mô hình cho các chủng viện được thành lập về sau ở Pháp. Không bỏ bê việc huấn luyện trí thức đang diễn ta ở Đại học Sorbonne, mục tiêu của ngài là hướng dẫn các linh mục tương lai vào một đời sống nội tâm sâu xa và vào sự hiệp thông với Chúa Kitô Mục Tử để hoàn toàn phục vụ Giáo Hội.
Cùng với các linh mục tụ họp xung quanh ngài và cấu thành nên mầm mống đầu tiên của Hội Linh Mục Xuân Bích, ngài đã đề nghị với các Giám mục việc phục vụ của ngài. Như thế, suốt cuộc đời mình, ngài đã thành lập tám chủng viện khác nơi những địa phận khác nhau của Pháp.
Song song vào đó, ngài đã triển khai một hoạt động mạnh mẽ trong giáo xứ của mình mà ngài muốn canh tân lòng sốt sắng. Ngài đã vấp phải nhiều khó khăn, và thậm chí, một ngày nọ, ngài đã vấp phải sự nổi lên chống đối thực sự, được khơi dậy do những người từ chối những cải cách mà ngài đã thực hiện. Trong những thử thách của ngài, ngài đã được cha Vincent de Paul nâng đỡ rất nhiều. Hoàn cảnh này cuối cùng được khôi phục, sự bình an trở lại trong giáo xứ và cha Olier chiếm được sự tin tưởng của các giáo dân của mình. Ngài đã ra sức làm cho phụng vụ được trang nghiêm và sốt sắng ; ngài phát triển các sách giáo lý bằng cách phân phối chúng trong các khu vực khác nhau của giáo xứ ; ngài cũng thành lập lớp giáo lý cho người trưởng thành ; ngài tổ chức việc phục vụ người nghèo.
Đối với các linh mục đang thực thi thừa tác vụ của họ nơi địa bàn giáo xứ, ngài nhấn mạnh đến việc cầu nguyện và đời sống cộng đoàn, cũng như công việc mục vụ mà vị trí của mỗi người đã được xác định rõ ràng. Chính ngài cũng ủng hộ sự trao đổi giữa họ. Là người cầu nguyện, đọc Lời Chúa đều đặn, ngài cũng hướng dẫn nhiều người trong đời sống thiêng liêng và trao đổi thư từ rộng rãi.
Là thành viên của Hội Thánh Thể, là sáng lập viên của Hội Thương Khó cùng với Gaston de Rentry, để đấu tranh chống lại việc đấu kiếm tay đôi, ảnh hưởng kín đáo của ngài đã được mở rộng. Chẳng phải là ngài đã đạt được sự trở lại của vua nước Anh, Charles II, vào năm 1653 ? vả lại, sự trở lại mà vẫn còn chưa có hiệu lực. Cùng với Royer de la Dauversière và Jean de Bernière, nhà thần bí xứ Normandie, ngài đã mang lại tất cả sự hậu thuẫn của mình cho việc truyền giáo ở Canada. Chẳng phải là chính ngài đã mơ ước ra đi đến vùng Viễn Đông hay sao?
Bị chứng sung huyết não, ngài đã phải từ bỏ trách nhiệm cha sở giáo xứ Saint-Sulpice của mình vào năm 1652, dù vẫn còn là bề trên của chủng viện. Ngài qua đời ngày mồng 2 tháng Tư năm 1657. Một vài tháng sau (khi) những linh mục Xuân Bích đầu tiên cập bến bờ biển mà lúc đó người ta gọi là Tân Pháp Quốc.
----------------

Ngày thứ nhấtKÍNH TÔN VINH BA NGÔI RẤT THÁNH

Con thờ lạy Cha, Đấng Cao Cả uy linh, con thờ lạy sự cao cả khôn thấu đối với con người và các thiên thần của Cha, mà duy chỉ Cha biết, được Ngôi Lời của Cha ca ngợi, và được yêu mến cách xứng đáng bởi chỉ Thánh Thần của Cha.
Lạy Cha vĩnh cửu, dù con chẳng là gì để tôn vinh Cha như đáng phải, nhưng con xin dâng Cha mọi bổn phận nơi trần gian của Ngôi Lời nhập thể của Cha.
Con xin dâng Cha mọi sự kính trọng và mọi tình yêu của Thánh Thần (của Ngôi Lời nhập thể) đang sống trong thân thể Giáo Hội của Ngài…
Lạy Chúa Ba Ngôi rất thánh và rất đáng tôn thờ, một Thiên Chúa duy nhất trong ba Ngôi Vị, xin cho con dâng lên Chúa những bổn phận nhỏ bé nghèo nàn của con trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng trung gian giữa chúng con với Chúa, và trong ân sủng của Thánh Thần Ngài.
Lạy Cha vĩnh cửu, con thờ lạy Cha, như là Đấng Tạo Thành nên con ; con xin biểu lộ tình yêu và lòng nhân từ đã mang sự Uy Linh của Cha nhìn đến kẻ hư không nghèo hèn này và ra sức tác thành con người của con. Lạy Ngôi Lời vĩnh cửu, con thờ lạy Chúa như Đấng Cứu Độ con, dù ngang bằng Cha, nhưng Chúa đã làm cho mình nên giống chúng con trong Mẹ của Chúa, mặc lấy thân phận tôi tớ để sống nghèo hèn, chết tủi nhục, nhưng để sống lại trong vinh quang, giống Cha của Chúa.
Lạy Chúa Thánh Thần, con thờ lạy Chúa như Đấng Thánh Hóa con, đã thiêu hủy tội lỗi trong tâm hồn con bằng ngọn lửa tình yêu thánh thiện của Chúa…để tỏa lan nơi đó sự sống thánh thiện mà Chúa đã kín lấy nơi cung lòng Chúa Cha và Chúa Con, để nâng con lên vào cộng đồng (société) vinh quang của các Ngài… (Ngày sống của người kitô hữu, Một thực hành khác cho kinh nguyện ban mai, tr. 105-106).
Bản văn này là phần đầu của lời kinh « nâng mình lên » với Chúa Ba Ngôi (« élévation » trinitaire) mà cha J.J. Olier đề nghị cho các kitô hữu của giáo xứ Saint-Sulpice như là kinh nguyện ban mai. Nó được xuất bản sau khi ngài qua đời trong một cuốn sách nhỏ có tựa đề « Ngày sống của người kitô hữu » (« La Journée chrétienne »). Ngài đưa ra cho ngày sống và cho tất cả cuộc đời kitô hữu một định hướng diễn tả nhiệt huyết nơi chính cuộc sống của cha sở giáo xứ Saint-Sulpice.
Khi cha Olier bắt đầu viết cuốn Hồi ký tự thuật của mình vào năm 1641, theo yêu cầu của cha linh hướng của ngài, cha bắt đầu bằng những lời này : Kính dâng về Chúa Ba Ngôi, nguồn mạch không bao giờ cạn của mọi điều thiện hảo, Đấng ban phát các hồng ân bao la của Người cho kẻ dữ cũng như người lành, thưởng cho kẻ bội bạc cũng như người công chính…(Hồi ký. I, tr.1).
Sự chuyển động nội tâm đánh động ngài làm cho ngài hướng đến mầu nhiệm ba ngôi bằng một thái độ mà trước tiên là thái độ thờ lạy. Như tất cả những bậc thầy tu đức của Trường phái tu đức Pháp, cha Olier đã được thấm nhập bởi một cảm xúc rất mãnh liệt về sự cao cả của mầu nhiệm Thiên Chúa. Mầu nhiệm này là khôn thấu đối với trí tuệ của con người.
Chúng ta chỉ có thể sấp mình trước mầu nhiệm thần linh này. Chúng ta rất mực yếu đuối và nhỏ bé, có một khoảng cách lớn giữa chúng ta và sự cao cả uy linh (majesté) của Thiên Chúa. Lấy lại một thuật ngữ mà có từ bao đời và không nhằm hạ giá con người, nhưng muốn nói sự lệ thuộc của nó đối với đấng tạo thành nó, cha Olier thừa nhận chúng ta là kẻ hư không nghèo hèn : nếu không có Thiên Chúa, chúng ta sẽ gì ? Không là gì cả, là hư không (néant) !
Thế nhưng, ước muốn của Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là để mặc chúng ta từ xa, sấp mình dưới chân Người, như, vào thế kỷ XVII, những thần dân của vua sấp mình trước mặt vua và chỉ dám nhìn ông khi ông chiếu cố cho phép. Thiên Chúa đã không tạo thành chúng ta để đối xử chúng ta như những thần dân của Người. Trái lại, Người muốn nâng chúng ta lên vào cộng đồng vinh quang của các Ngài, tức là ban cho chúng ta bước vào trong mầu nhiệm trao đổi giữa ba ngôi vị thần linh, liên kết chúng ta vào sự sống của Người.
Làm thế nào điều đó có thể được thực thi ? Đó là một mầu nhiệm còn khôn thấu hơn nữa. Đối với chúng ta, việc Thiên Chúa tự bản chất là bất khả đạt tới, thì đó là những gì chúng ta nên vui lòng từ bỏ ; đối với chúng ta, nhìn nhận minh nhiên sự bất lực của mình là đủ. Nhưng việc Thiên Chúa ấp ủ ước muốn chia sẻ sự sống của Người cho chúng ta, thì đó là những gì làm cho chúng ta kinh ngạc, thán phục và biết ơn !
Sự tôn thờ của chúng ta vì thế càng gia tăng ; nhưng chúng ta trở nên những người tôn thờ dám nhìn Thiên Chúa, chấp nhận để Người lôi kéo chúng ta và cuối cùng chấp nhận đón nhận tình yêu tha thiết của Người. Thiên Chúa muốn đổ tràn nơi chúng ta sự sống thánh thiện được múc lấy nơi cung lòng của Cha và Con nhờ Thánh Thần.
Ngài cho phép chúng ta yêu mến Ngài, nhưng không phải như những người hành khất đứng chực trước cửa nhà đón nhận chút thức ăn, một vài mẫu bánh vụn rơi từ bàn ăn dồi dào của ông chủ để tồn tại ; Ngài cho chúng ta bước vào trong nhà Ngài, Ngài mời chúng ta ngồi vào bàn ăn của Ngài, Ngài cho chúng ta chia sẻ sự thân mật của Ngài ; và tiếp theo, Ngài không đuổi chúng ta, (nhưng) chúng ta cư ngụ nơi nhà Ngài, trong Ngài, mãi mãi.
Nhưng làm thế nào chúng ta có thể bước vào trong sự thân mật với Cha như thế mà duy chỉ mình Người biết sự cao cả của mình? Dù Người muốn điều đó, nhưng điều ấy chắc chắn có thể làm chúng ta đau khổ. Nhưng chúng ta sẽ đạt tới đó bằng những con đường nào ? Cha Olier cho biết : Con thờ lạy sự cao cả của Cha… mà duy chỉ Cha biết, được Ngôi Lời của Cha ca ngợi, và được yêu mến cách xứng đáng bởi chỉ Thánh Thần của Cha. Nếu có thể nói, thì chỉ Ngôi Lời và Thánh Thần là ở cùng tầm cấp (diapason) với Cha, vì các Ngài chỉ làm một với Cha trong Chúa Ba Ngôi duy nhất.
Vì thế, chính khi hiệp thông với Ngôi Lời và với Thánh Thần mà chúng ta sẽ có thể ca tụng và yêu mến Cha như đáng phải. Chắc chắn, những bổn phận của chúng ta vẫn là những bổn phận nhỏ bé nghèo hèn của chúng ta, nhưng nếu Ngôi Lời nhập thể đảm nhận chúng, nếu Ngài nhận lấy chúng nơi lời ca ngợi mà Ngài dâng về Cha trong nhân tính của Ngài, và nếu chính chúng ta khiếm tốn đặt sự thờ lạy của chúng ta trong sự thờ lạy của Ngài, thì khi đó, chúng ta sẽ bước vào với Cha trong mối tương quan mà Người ao ước, bởi vì đó sẽ là chính mối tương quan của Ngôi Lời nhập thể của Người với Người. Tình yêu của chúng ta sẽ vẫn là tình yêu nhỏ bé nghèo nàn của chúng ta, nhưng nếu chúng ta tháp nhập nó vào mọi tình yêu của Thánh Thần (của Ngôi Lời nhập thể) đang sống trong thân thể Giáo Hội của Ngài, thì nó sẽ mặc lấy sự cao cả của Người.
Như thế, đặc tính thiết yếu của mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm trung tâm đối với cha Olier, được sáng tỏ. Chúng ta chỉ là những con người. Chỉ mình Thiên Chúa có thể vượt qua khoảng cách bề ngoài xem ra không thể vượt qua. Trong Con của Người,  Người đã muốn chia sẻ cuộc sống của chúng ta để cho chúng ta chia sẻ cuộc sống của Người. Và Người Con đă làm cho chúng ta hiệp thông với nhân tính thánh thiện của Ngài và như thế đã cho phép chúng ta bước vào trong sự trao đổi tình yêu với Cha.
Sự thờ lạy và tình yêu mà chính Ngài thể hiện với Cha Ngài trở nên sự thờ lạy và tình yêu của chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngôi Lời nhập thể sai đến với chúng ta để thiêu hủy tội lỗi nơi chúng ta và đổ tràn sự sống thánh thiện nơi chúng ta. Sự chuyển động Nhập Thể do đó đổ đầy ước muốn của Thiên Chúa thông ban cho ta sự sống riêng của Người.
Chắc chắn, sự khác biệt không bị xóa bỏ, nhưng nó được sống từ bên trong một sự kết hiệp mới mẻ ; chúng ta vẫn là những người nghèo hèn, nhưng là những người nghèo hèn được no thỏa, được tiếp nhận ở bàn ăn của Người Con, được ban cho Lời và Bánh ; những người hành khất được nâng lên đến một phẩm giá mà chúng ta không dám nghĩ đến : hiệp nhất với Con và sống trong Thánh Thần, chúng ta đã trở nên những con người tự do, có khả năng ca ngợi và yêu mến đối với đấng tạo thành và là Cha của chúng ta. Và ước muốn của Thiên Chúa thông ban cho ta sự sống của Người khơi lên trong chúng ta ước muốn hoàn toàn thuộc về Người trong Chúa Giêsu Kitô :
Sau hết, lạy Thiên Chúa của con, con thuộc về Chúa, trong Chúa Giêsu Kitô, Con của Chúa, và con mong ước biết bao được Ngài thúc đẩy và được biến đổi trong Ngài để hành động tôn vinh Chúa nhờ Ngài ; con không muốn làm gì hơn, nghĩ gì hơn, nói gì hơn là bằng vào sức mạnh duy nhất của Ngài và lệ thuộc vào Ngài ; con sẽ tìm thấy nơi Ngài những gì làm thỏa mãn ước muốn của con… (Ngày sống của người kitô hữu, tr. 112).

Ngày thứ hai
SỐNG CHO THIÊN CHÚA TRONG CHÚA GIÊSU KITÔ

Mục đích đầu tiên và sau cùng của Hội (institut) này sẽ là sống hết mình cho Thiên Chúa trong Chúa Kitô Giêsu Chúa chúng ta (Rm 6, 11), đến độ cái sâu thẳm bên trong của Con của Người thấm nhập vào tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta và cho phép mỗi người, phần mình, có thể nói như thánh Phaolô cách tin tưởng rằng : « Không còn là tôi sống nữa, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi » (Gal 2, 20). Nơi (Hội) chúng ta, đó sẽ là niềm hy vọng độc nhất và là tư tưởng duy nhất, đó cũng là thực hành duy nhất : sống cách nội tâm đời sống của Chúa Kitô và biểu lộ cuộc sống đó bằng những hành vi nơi thân xác hay chết của chúng ta (2 Cor 4, 10-11)…
Do đó, các thành viên của cộng đoàn, nhiều lần trong ngày, nhưng nhất là vào buổi sáng và khởi đầu của mỗi hành động và mỗi cuộc nói chuyện, sẽ thực hiện trước nhan Thiên Chúa một hành vi từ bỏ chính mình. Họ hiến thân cách tin tưởng cho Chúa Kitô, Đấng cư ngụ nơi nội tâm của họ, để, (đang khi) chết cho chính mình, (và) chỉ sống và làm việc cho chỉ mình Thiên Chúa, họ có thể làm vui lòng Người trong Chúa Kitô, nhờ Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Luôn luôn sợ hãi chạy trốn chính mình, tĩnh lặng nội tâm trong Chúa Kitô, sống dưới hoạt động ban sự sống của Thánh Thần, họ sẽ hành động theo lời nói của thành Phêrô : « Nếu ai có nói, thì hãy nói lời Thiên Chúa, ai phục vụ, thì phục vụ bằng sức mạnh Thiên Chúa ban » (1 P 4, 11). Như những Kitô hữu đích thực, họ sẽ sống cho Chúa Kitô hơn là cho chính mình, và trong mọi sự, chính những mẫu gương của các nhân đức và  lối sống của Ngài mà họ sẽ biểu thị, theo như lời này : « chớ gì đời sống của Chúa Kitô được tỏ lộ nơi anh em » (2 Cor 4, 10) (Pietas seminarii, tr. 163 và 177).
Bản văn này được trích từ cuốn « Đời sống tâm linh ở chủng viện» (« Pietas seminarii ») hay là « Chỉ nam thiêng liêng của chủng viện Xuân Bích » (« Directoire spirituel du séminaire Saint-Sulpice »), đưa ra những định hướng lớn cho Chủng viện. Nó được phân chia thành 22 số vắn gọn. Đoạn đầu tiên được đề nghị ở đây là đoạn mở đầu của cuốn Pietas, hai đoạn kia là của số 19 và 20.
Được dành cho các linh mục Xuân Bích đầu tiên và cho các chủng sinh, những định hướng này cũng có thể được áp dụng cho hết các Kitô hữu. Đối với cha Olier, việc cải cách hàng giáo sĩ không thể tách rời với việc cải cách Kitô giáo, tức là Giáo Hội toàn thể, giáo dân, tu sĩ và linh mục.
Những bản văn này được thêu dệt bằng những đoạn Thánh Kinh, đặc biệt của Thánh Phaolô. Sẽ không ngạc nhiên khi nhận thấy ngay định hướng đến Thiên Chúa của toàn thể đời sống kitô giáo thấm nhập ngày đầu tiên rồi : Sống hết mình cho Thiên Chúa. Trạng từ « hết mình » có nghĩa : ở điểm cao nhất, hết sức có thể. Nó diễn tả một cường độ sống mạnh mẽ ; nó hệ tại hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa, để ngài làm chủ tể cuộc sống chúng ta.
Nhưng chúng ta cũng đã thấy vào ngày đầu tiên, điều đó chỉ có thể được thực hiện trong Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta. Vì Ngài là Đấng duy nhất sống hết mình cho Thiên Chúa, Cha của Ngài. Vì thế, chỉ trong sự hiệp thông với Chúa Kitô mà chúng ta có thể đón nhận cường độ sống này, sự năng động mà làm cho chúng ta thực hiện ơn gọi của chúng ta : sống cho Thiên Chúa.
Để chúng ta được hướng dẫn trong mối tương quan của Con với Cha của Ngài, thì cái sâu thẳm bên trong của Con của Người phải thấm vào tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta. Cha Olier phân biệt hai đời sống nơi Chúa Giêsu Kitô, đời sống bên trong và đời sống bên ngoài. Đời sống nội tâm của Chúa Giêsu, đó là những gì đánh động Ngài tự sâu thẳm của Ngài, nghĩa là Chúa Thánh Thần. Đời sống bên ngoài, đó là những hành vi của chúng ta, những thái độ của chúng ta. Theo cha Olier, con đường chắc chắn nhất để đạt tới đời sống kitô hữu đích thực, đó là hiệp thông với những tâm tình và ước muốn nội tâm của Chúa Giêsu Kitô, để đời sống bên ngoài của chúng ta, được thấm nhập bởi Thánh Thần, làm chứng cho Tin Mừng. Người ta hiểu tại sao những trích dẫn thánh Phaolô như « Anh em hãy mặc lấy những tâm tình của Chúa Kitô » hay là « không còn phải tôi sống nữa, đó là Chúa Kitô sống trong tôi » (Gal 2, 20) tuôn ra tự nhiên dưới ngòi bút của ngài.
Dĩ nhiên, để được đổ đầy Chúa Giêsu Kitô, như ngài thường nói, thì cần thiết hóa mình ra không. Sự từ bỏ chính mình, mà ngài còn gọi là sự trần trụi, hay việc hóa mình ra không, tác động mạnh mẽ trong tiến trình thiêng liêng của cha Olier. Một số người thậm chí nhận thấy ngài nhấn mạnh quá mức và từ vựng của ngài đôi khi gây khó chịu. Có thực sự cần thiết, như ngài nói, là sợ hãi chạy trốn chính mình không ?
Chúng ta đã nói về điều này, cha Olier đã có kinh nghiệm cá nhân về lòng say mê bản thân ngăn cản con người hướng về Thiên Chúa và luôn quy hướng về bản thân. Và đó là lý do tại sao ngài khuyên chúng ta chạy trốn chính mình. Khi chạy trốn chính mình, chúng ta quay lưng cho chính mình, chúng ta ngừng là bận tâm quan trọng của chúng ta, và cái nhìn của chúng ta có thể hướng về Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng trở nên cho chúng ta niềm hy vọng độc nhất và tư tưởng duy nhất.
Dù sao, đối với cha Olier việc từ bỏ không tạo nên sự ám ảnh. Ngài giải thích cho một trong các con linh hướng của ngài, Mẹ de Bressand, lúc đó là tu viện trưởng của dòng Đi Viếng Nantes, rằng việc dứt bỏ hoàn toàn bản thân và những điều thuộc thế gian không phải là một điều kiện tiên quyết đối với đời sống thiêng liêng :
« Phải được đổ đầy Chúa Giêsu Kitô ; công việc của chúng ta, như thánh Phaolô nói (Col 3, 11), đó là làm cho Chúa Giêsu Kitô trở nên tất cả trong mọi người. Thưa mẹ quý mến, cần phải cố gắng đạt tới điều đó cách kỹ lưỡng, và để nói cho mẹ sự thật giữa chúng ta, phải bắt đầu từ đó, nghĩa là thiết lập Chúa Giêsu trong chúng ta, Đấng tống khứ Ađam khỏi đó ; ước gì sự khiêm hạ của Ngài đánh bật đi tính kiêu ngạo của chúng ta ; tình yêu của Ngài xua đuổi lòng tự ái của chúng ta ; Thánh Thần của Ngài thế chỗ của chúng ta, tóm lại con người mới tống khứ đi con người cũ. Vì thế, cần phải yêu và thờ phượng Chúa Giêsu nhiều để lôi kéo Ngài đến trong chúng ta ».
Nói cách khác, việc tu luyện khổ hạnh có tham vọng tống đi hết mọi thứ trong nhà trước khi Chúa Giêsu Kitô cư ngụ ở đó sẽ là duy ý chí và tất phải thất bại. Chính khi để sự khiêm hạ của Chúa Giêsu chiếm lấy tâm hồn chúng ta mà chúng ta sẽ tìm thấy sức mạnh chiến đấu chống lại sự ngạo mạn nơi chúng ta ; chính khi để tình yêu của Ngài quyến rũ chúng ta mà chúng ta sẽ hiểu sự nực cười của lòng tự ái nơi chúng ta. Cha Olier không loại trừ sự tu luyện khổ hạnh, nhưng trái lại, ngài đặt nó đúng chỗ của nó, không phải là chỗ đầu tiên. Điều đầu tiên, đó là tình yêu của Chúa Giêsu cần phải xâm chiếm chúng ta để sự khốn khổ của chúng ta lánh đi trước nhan Ngài.
Thế nhưng, cha Olier cũng không kém đòi hỏi, vì những gì ngài muốn đối với những người ngài hướng dẫn, đó là sự hoàn thiện của tình yêu. Vậy mà tình yêu nơi chúng ta chỉ hoàn thiện khi nó là chính tình yêu của Chúa Giêsu Kitô đổ tràn nơi chúng ta. Chính như thế mà niềm vui của Cha được trọn vẹn, khi Người thấy tình yêu của Con của Người đổ đầy nhân loại. Cha Olier khai triển tư tưởng này trong tập «Những lời khuyên răn cho các vị linh hướng» (« Avis aux directeurs spirituels » (AD)) của ngài, một thứ tiểu luận về việc linh hướng, về sau được các vị kế nghiệp ngài tập hợp lại :
« Niềm vui lớn lao nhất của Cha muôn thuở, đó là nhìn thấy Con của Người khắp nơi bởi vì chỉ có tình yêu đối với Ngài và đối với các linh hồn trong chừng mực chúng được đổ đầy Ngài hơn nữa. Đó là lý do tại sao thánh Phaolô khẳng định rằng Chúa Kitô phải được hình thành nơi chúng ta (Gal 4, 19) (AD. trang 69-70).
Hình thành Chúa Giêsu Kitô nơi các linh hồn, lối diễn tả này, thường được dùng trong Trường phái Tu đức Pháp, mà cha Olier lấy lại ở đây theo cách tương đương, chỉ ra nhiệm vụ cho tất cả các nhà giáo dục, cho tất cả những ai đang thực thi một trách nhiệm trong Giáo Hội ; mỗi người trong chúng ta cũng phải để Chúa Giêsu Kitô hình thành trong linh hồn chúng ta để làm cho Cha vui mừng.

Ngày thứ ba
BUÔNG MÌNH CHO CHÚA THÁNH THẦN

Vì như Thánh Thần là Đấng ban sinh khí cho thế giới thần linh của Giáo Hội (Kn 1, 7) và vì cũng chính Thánh Thần này đánh động mọi chi thể của Thân Thể huyền nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, thì cũng thế nhờ đức ái là sự sống của Thánh Thần mà mọi chức năng của Giáo Hội của Thiên Chúa cần thực hiện.
Thánh Phaolô nói : đức ái được ban cho chúng ta nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần ở trong tâm hồn (cœurs) chúng ta để cho chúng ta biết rằng quả tim (cœur) vì là nguyên lý của sự sống chuyển động và chi phối tất cả trong chúng ta, vì được Chúa Thánh Thần ban sinh khí, nó đánh động cùng với chính mình mọi thụ tạo và đổ đầy thụ tạo bằng sự nhiệt huyết và bằng sức mạnh của mình để làm cho thụ tạo có khả năng (đảm nhận) mọi chức năng và (có) mọi phẩm chất cần thiết để thực hiện công việc của nó. Thánh Thần Thiên Chúa cũng thực hiện y như thế trong thân xác uy nghiêm và huy hoàng của Giáo Hội những gì mà quả tim thực hiện nơi thân xác của con người. Chỉ mình Người đánh động tất cả, ban sinh khí cho tất cả và ứng dụng tất cả vào việc phụng sự Thiên Chúa bằng sức mạnh (vertu) của ngọn lửa và đức ái thánh thiện của Người, mà nếu không có sức mạnh và sự sống của nó, mọi sự sẽ chết và trì trệ, và nếu không có nó, không có gì có thể được bảo tồn trong Giáo Hội, (và) cũng chẳng có gì nảy sinh nơi Giáo Hội mà không có sức mạnh (vertu) của Người (Manuscrits. 20).
Đoạn văn này là phần đầu của một bản văn về việc cầu nguyện, được chuẩn bị cho Kế hoạch thiết lập một chủng viện nơi một giáo phận (1651). Nó không diễn tả tất cả học thuyết của cha Olier về Chúa Thánh Thần. Nhưng nó tạo nên một điểm khởi đầu tốt bởi vì nó dẫn chúng ta ngay lập tức vào một sự năng động tình yêu và sự sống. Ở đây, Thánh Thần được định nghĩa như là con tim của Giáo Hội, con tim làm cho Giáo Hội sống theo nhịp tình yêu của Thiên Chúa, và cũng (được định nghĩa) như là ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa, ngọn lửa biến đổi Giáo Hội thành tình yêu.
Thánh tông đồ Phaolô đã nói điều đó rồi : chính Thánh Thần tuôn đổ đức ái trong Giáo Hội và trong mỗi chi thể của nó ; về đức ái, có thể nói rằng nó là công trình chủ yếu được thực hiện nơi thân thể Giáo hội. Một Giáo Hội không sống đức ái, không tìm kiếm trở nên đức ái cho thế giới sẽ không phải là Giáo Hội của Chúa Kitô.
Cha Olier nói : mọi chức năng, ngày nay chúng ta đồng thời có thể nói đến mọi việc phục vụ, mọi thừa tác vụ, mọi ơn gọi, phải đồng quy ở đức ái. Cha sở giáo xứ Saint-Sulpice không quên đi ý nghĩa của tổ chức, nhưng ngài không dừng lại ở đó ; tổ chức phục vụ đức ái, sự hiệp nhất, trong giáo xứ của ngài cũng như trong chủng viện. Một cộng đoàn kitô hữu, nơi người ta chỉ chú ý đến việc bố trí tốt đẹp các cơ cấu và những ban bệ khác nhau sẽ dần mất đi sức sống của nó.
Ngọn lửa Thánh Thần mà hiệp nhất sâu xa các kitô hữu với nhau, trước tiên sẽ hiệp nhất  họ với Chúa Giêsu Kitô. Chúa …muốn rằng, nhờ tác động của Thánh Thần, chúng ta cùng sống với Ngài một cuộc sống thực sự nên một như Cha và Con sống với nhau, không gì hơn chỉ là một cuộc sống, một tâm tình, một ước muốn, một tình yêu, một ánh sáng (Dẫn vào đời sống và các nhân đức kitô giáo. ch. 3, tr.16)…
Chúa muốn : sự hiệp thông giữa Chúa Kitô và các kitô hữu trong Thánh Thần này thực sự tạo nên mục tiêu của đời sống kitô hữu ; nó trở nên hoàn hảo khi nó thấm nhập tất cả trong chúng ta : ý muốn (ở đây được diễn tả bằng ước muốn và tình yêu), trí tuệ (được diễn tả bằng ánh sáng), những cách diễn đạt tâm lý của ý muốn (được diễn tả bằng tâm tình, theo nghĩa mà thánh Phaolô nói về các tâm tình của Chúa Kitô), cũng thế Cha và Con không có gì hơn chỉ là một cuộc sống, một tâm tình, một ước muốn, một tình yêu, một ánh sáng.
Qua nhận xét này, cha Olier đưa chúng ta đến nguồn mạch của mọi sự hiệp nhất và của mọi tình yêu. Sự hiệp thông của các kitô hữu với Chúa Kitô là theo hình ảnh của sự hiệp thông giữa Cha và Con trong Chúa Ba Ngôi, và Thánh Thần là tình yêu giữa hai Đấng :Lạy Cha và Con, con yêu mến các Ngài trong Thánh Thần, là tất cả tình yêu của các Ngài. Cha Olier đã cầu nguyện như thế nơi một trong những lời kinh nâng mình lên với Chúa Ba Ngôi mà ngài đã sáng tác (Ngày sống của người kitô hữu, tr. 105).
Thánh Thần, Đấng đổ tràn đức ái trong tâm hồn các kitô hữu và hiệp nhất họ với nhau và với Chúa Kitô, vẫn là Đấng thúc đẩy Chúa Giêsu và dẫn Ngài theo thánh ý của Cha trong mọi tư tưởng, mọi tình cảm và mọi hành vi của Ngài, cho đến lúc Chúa Giêsu trao phó Thánh Thần cho Cha Ngài : « Lạy Cha, con xin phó thác Thánh Thần của Con trong tay Cha » (Lc 26, 42).
Trong sự phức tạp của các mối tương quan này, người ta thấy rằng Thánh Thần luôn luôn là Đấng hiệp nhất các kitô hữu với nhau trong tình yêu, các kitô hữu với Chúa Kitô, Chúa Kitô với Cha Ngài, Cha và Con giữa lòng mầu nhiệm Ba ngôi, nguồn mạch của mọi sự hiệp nhất… Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, tâm hồn con nhìn nhận Chúa như là nguồn mạch không bao giờ cạn của tình yêu thuần khiết (Ngày sống của người kitô hữu, tr. 106). Tình yêu thuần khiết này là đối tượng của ước muốn mãnh liệt (éperdu) của tất cả những ai tìm kiếm Đấng Yêu Dấu, cha Olier  thích chiêm ngưỡng tình yêu thuần khiết đó nơi nguồn mạch của nó là chính Thánh Thần.
Vì thế, Thánh Thần giữ một chỗ trung tâm nơi tư tưởng của cha Olier ; sự có mặt khắp nơi của Người nơi những bài viết của ngài rõ ràng cho thấy điều đó. Khi tìm cách định nghĩa thế nào là người kitô hữu ngay từ bài đầu tiên của cuốn Giáo lý kitô giáo cho đời sống nội tâm, cha Olier không sai chúng ta đi kiểm chứng những danh xưng của chúng ta nơi sổ rửa tội. Ngài bắt đầu bằng việc khơi lên những gì nội tâm nhất nơi chúng ta, (đó là) sự hiện diện và hành động của Thánh Thần trong chúng ta. Chúng ta là những kitô hữu nhờ sự hiện diện của Thánh Thần nơi chúng ta.
Ai là người đáng được gọi là kitô hữu ? Đó là người có Thánh Thần của Chúa Giêsu Kitô nơi mình.
Và ngài thêm :
Anh chị em hiểu thế nào khi nói Thánh Thần của Chúa Giêsu Kitô ? Tôi không hiểu là linh hồn của Ngài, nhưng là Thánh Thần đã cư ngụ trong Ngài.
Tiếp đến, cha Olier nói rõ rằng chính nơi phép Rửa tội mà Thánh Thần của Chúa Giêsu Kitô được ban cho chúng ta để làm cho chúng ta sống như Ngài (Giáo lý kitô giáo cho đời sống nội tâm,bài I, tr.12).
Như thế, đời sống kitô hữu cắm rễ sâu trong phép Rửa tội ; nhưng phép Rửa này không phải là chữ ký của việc thuộc về xã hội nào đó, như những cách cư xử vụ hình thức của nhiều kitô hữu thời cha Olier có thể để cho người ta tin như vậy ; trước hết, phép Rửa là cử chỉ và lời nói làm cho hồng ân của Chúa Thánh Thần xuống trên nhân loại và như thế đặt chúng ta trong ân sủng sống với Chúa Kitô và để Chúa Kitô sống và hành động trong chúng ta.
Chỗ đứng quan trọng của Thánh Thần nơi tư tưởng và đời sống tâm linh của cha Olier trong mối liên hệ của nó với phép Rửa chắc chắn là do đường lối sư phạm của cha linh hướng của ngài, cha Charles de Condren, có tính cách quyết định trong kinh nghiệm của ngài. Chính cha Olier đã tường thuật điều đó trong cuốn đầu tiên của Hồi ký tự thuật của ngài. Sự thay đổi được kể lại và những hệ quả đầu tiên của nó có lẽ có từ năm 1636, vào khoảng tháng Ba hay tháng Tư :
Đầu tiên, vì tôi đã đổi cha linh hướng, ngài đã bắt đầu phó thác tôi cho Thánh Thần của Thiên Chúa hơn là vị linh hướng đầu tiên và đã để cho tôi tĩnh tâm một mình… ; thế là lúc đó, tôi đã bắt đầu nghiệm thấy sự hướng dẫn của vị Thánh Thần này và rất ân cần, Người đã tỏ lộ cho tôi từ đó…(Hồi ký, I, tr.21).
Chúng ta sẽ trở lại sau với kinh nghiệm này mà cha Olier trình bày như là nền tảng trong hành trình bản thân của ngài. Nó là nguồn gốc của cách diễn đạt nổi tiếng này trong đó ngài tóm tắt điều cốt lõi của đời sống tâm linh : buông mình cho Chúa Thánh Thần. Cha Condren, bằng cách rút lui và không áp đặt, đã giúp cho kinh nghiệm về sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần ; kinh nghiệm này sẽ dẫn cha Olier đến khám phá quan trọng về sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô nơi tâm hồn của người kitô hữu, mời gọi kết hiệp với Con Thiên Chúa trong tất cả những gì chúng ta sống, cho đến khi Ngài được hình thành trọn vẹn trong chúng ta.

Ngày thứ tư
HOÀN TẤT THÂN THỂ CHÚA GIÊSU KITÔ

Lạy Thánh Thần Thiên Chúa, Chúa vui thích tiếp tục nơi Giáo Hội những gì Chúa đã khởi sự nơi các thánh của Chúa, con xin dâng Chúa linh hồn con để Chúa đổ tràn nơi linh hồn con điều đó : xin Chúa tỏ bày nơi linh hồn con những gì Chúa đã tỏ bày nơi các thánh ; xin mở rộng ra (dilatez) nơi con và trong tất cả Giáo Hội những gì Chúa thực hiện cho Thiên Chúa trong tâm hồn của Chúa Giêsu…
Lạy Thiên Chúa của con, Chúa lấy làm vui thích bằng lòng nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng duy nhất, nhờ sức mạnh của Thánh Thần, mà Ngài được tràn đầy, dâng lại cho Chúa tất cả những gì các tông đồ và các môn đệ của họ đã tôn vinh và ca tụng Chúa ; xin tỏ bày nơi linh hồn chúng con và nơi tất cả Giáo Hội Chúa những gì mà chỉ duy mình Ngài dâng về cho Chúa cách hoàn hảo trên thiên đàng.
Ôi lạy Chúa Giêsu của con, ước gì Giáo Hội mở rộng ra những gì Chúa  đã có nơi chỉ mình Chúa, và Giáo Hội diễn tả ra bên ngoài chính mình sự thờ phượng thần linh (religion divine) này mà Chúa dành cho Cha trong nơi kín ẩn của tâm hồn của Chúa, trên thiên đàng và trên các bàn  thờ của chúng con. Ồ ! thiên đàng ! âm nhạc ! thật hài hòa thánh thiện biết bao trong những nơi thánh ! Ồ ! ước gì xuyên qua các nhà tạm này, đức tin làm cho tôi lắng nghe những bài thánh ca tuyệt diệu mà linh hồn của Chúa Giêsu Kitô dâng về Thiên Chúa cùng với tất cả các thiên thần và tất cả các thánh cùng đồng hành theo Ngài ở đó ! (Ngày sống của người kitô hữu, tr.123).
Bản văn này được rút ra từ cuốn Ngày sống của người kitô hữu. Chính xác hơn, nó bao gồm một vài đoạn của một lời nguyện hay lời kinh nâng tâm hồn lên dài có tựa đề : Những lời kinh Nhật Tụng. Nói với Cha, Con và Thánh Thần, lời kinh này đưa ra ý nghĩa cho kinh nguyện Nhật Tụng như là kinh nguyện của Giáo Hội. nhưng kinh nguyện của Giáo Hội là sự diễn đạt kinh nguyện của Chúa Kitô. Quả thế, Chúa Kitô chưa đựng trong kinh nguyện của Ngài kinh nguyện của tất cả các thiên thần, của tất cả các thánh và của tất cả các kitô hữu. Như cha Olier nói, kinh nguyện của Chúa Kitô được mở rộng ra trong kinh nguyện của mọi kitô hữu. Và vai trò của Thánh Thần làm linh hoạt kinh nguyện của Chúa Kitô là thực hiện sự mở rộng ra này.
Vì thế, khi cầu nguyện, Giáo Hội diễn tả những gì mà cha Olier gọi là sự thờ phượng thần linh ở nơi tâm hồn của Chúa Giêsu, nghĩa là mối tương quan mà Chúa Kitô thực hiện với Cha Ngài ; Giáo Hội diễn tả điều đó ra bên ngoài chính mình, nghĩa là trước mặt thế gian ; Giáo Hội diễn tả ra bên ngoài những gì ở bên trong tâm hồn của mình và tâm hồn của Chúa Kitô. Từ diễn tả ở đây mang một ý nghĩa mạnh, như khi người ta diễn tả ra bên ngoài nước ép của trái cây. Khi ca hát các thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, Giáo Hội diễn tả lời ca tụng của Chúa Giêsu, sự tôn thờ và tình yêu của Ngài đối với Cha Ngài.
Người kitô hữu chỉ có thể cầu nguyện trọn vẹn với toàn thể Giáo Hội và trong sự hiệp thông với kinh nguyện của Chúa Kitô ; như thế, người kitô hữu mang lại điểm cụ thể của mình cho kinh nguyện của mọi chi thể của thân thể. Nhưng người ấy không thể được xem như là một cá thể tự trị thuần túy mà, từ đặc tính cá thể của mình, sẽ nối kết những người khác để làm nên Giáo Hội với họ ; nó là một thành viên của Giáo Hội mà không thể được xem xét cách độc lập với những thành viên khác. Theo nghĩa này, Giáo Hội đi trước mỗi một thành viên của mình. chúng ta có thể ghi nhận thoáng qua rằng từ ngữ mở rộng ra (dilater), mà cha Olier dùng nhiều lần,  chỉ rõ rằng đức tin của người kitô hữu không phải là ti tiện, chật hẹp, cá nhân chủ nghĩa. Chúng ta cùng  hít thở ở đó theo nhịp của Giáo Hội.
Thánh Thần hiệp nhất các kitô hữu đến nỗi những khác biệt của họ không còn tách rời họ nữa, trái lại, những khác biệt này diễn tả sự phong phú của ân sủng trong sự đa dạng, bởi vì Thánh Thần hành động để thanh tẩy các tâm hồn và như thế đưa trở về trong khả năng hiệp thông những gì mà lòng tự ái có thể mang lại sự chia rẽ :
Chính Thánh Thần ở nơi mọi người, hoạt động trong mọi người cùng những điều như nhau, đến nỗi khi được biến đổi và cải cách nhờ Người trong Chúa chúng ta, ở sâu thẳm tâm hồn họ, họ không còn khác nhau nữa bởi những tình cảm đặc thù của xác thịt và của lòng tự ái, mà thông thường ngự trị nơi mỗi một người cách khác nhau theo sự đa dạng của tính khí và của sự thất thường khác nhau (của họ).
Nhưng tất cả họ là một nhờ sự hiệp nhất của một Thánh Thần duy nhất ngự trị nơi họ và thấm nhập vào tâm hồn họ.
Khi cha Olier phân tích sự thử thách thiêng liêng trong những năm 1639-1641của mình, và việc chữa lành chấm dứt nó, ngài hoàn tất câu chuyện của mình bằng những lời kinh ngạc này :
Vả lại, Thánh Thần ở trong chúng ta để hoàn tất Thân Thể của Chúa Giêsu Kitô và vẻ đẹp của Giáo Hội của Ngài. Thật hạnh phúc cho chúng ta biết bao đã được tuyển chọn bởi lòng nhân từ của Thiên Chúa, đấng đang thực hiện trong chúng ta và nhờ Thánh Thần của Người, những gì làm vui lòng Người vì vinh quang và vì sự hoàn tất vinh quang của Con của Người (Hồi ký, I, tr. 147).
Chúng ta có thể lưu ý thành ngữ : Thánh Thần ở trong chúng ta để… Cứu cánh của sự hiện diện và của công việc của Chúa Thánh Thần nơi chúng ta là hoàn tất Thân Thể của Chúa Giêsu Kitô và vẻ đẹp của Giáo Hội của Ngài. Công việc của Thánh Thần nơi mỗi kitô hữu do đó tiếp tục mục đích của Giáo hội. Xuyên qua vô số các kitô hữu mà Thánh Thần làm việc nơi họ, Giáo Hội mang lấy khuôn mặt tuyệt mỹ rạng rỡ của mình.
Việc cha Olier ám chỉ đến vẻ đẹp của Giáo Hội có thể làm chúng ta ngạc nhiên. Nhưng đối với ngài, Giáo Hội là nét phản ảnh thuần khiết nhất của vẻ đẹp của chính Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa là tuyệt mỹ :  lạy Thiên Chúa của con, tất cả những gì con nhìn thấy chỉ dùng để diễn tả vẻ đẹp kín ẩn và mới lạ của Chúa trước mắt con người (Ngày sống của người kitô hữu, tr. 234-236). Công trình tạo dựng diễn tả vẻ đẹp của Thiên Chúa, nhưng cũng là và còn hơn nữa Giáo Hội nơi mà hoạt động tế nhị của ân sủng nơi tâm hồn mỗi kitô hữu được biểu lộ.
Việc chiêm ngắm mầu nhiệm hiệp nhất của Giáo Hội đưa Giáo Hội đến việc vận dụng mầu nhiệm này, luôn cắm rễ sâu nơi mầu nhiệm của sự hiệp nhất Ba Ngôi. Do đó, ngài khuyên nữ tu viện trưởng của tu viện Regrippière đang bị đe dọa bởi những cuộc cãi cọ nội bộ, nhắc nhở cho các nữ tu rằng đức ái trong một cộng đoàn là cách diễn tả sự hiệp nhất của Thiên Chúa, diễn tả tình yêu trao đổi giữa ba ngôi vị :
Thiên Chúa, Đấng không ngừng sống với Con của Người, và ban cho Ngài tất cả hữu thể của Người, và tất cả những gì Người muốn và những gì người nghĩ, bằng cách đổ tất cả cái nội tâm của Người vào trong Ngài, muốn rằng Giáo Hội diễn tả sự sống thần linh này, và cộng đồng uy nghi cao cả này…Và đó là những gì bó buộc tôi cho mẹ biết rằng không còn chờ đợi thêm nữa, mẹ nên ngăn ngừa các con cái của mẹ lánh xa tinh thần này, để nhắc cho họ bổn phận của họ. Hãy cảnh báo họ thường luôn rằng họ chỉ phải nên một với các chị em của họ trong Thiên Chúa, mà Thánh Thần của Người luôn hướng đến sự hiệp nhất ; rằng sự hỗn loạn, phân bè hay chia rẽ là những hoạt động của ma quỷ và của lòng tự ái. Hãy trình bày cho họ thấy rằng, tinh thần thờ phượng kitô giáo vì là nối kết nên một tất cả những gì mà mưu chước của ma quỷ đã phân bè, chia rẽ, nên thật chẳng phải sống tư cách kitô hữu chút nào khi sống trong mối bất hòa chia rẽ(Thư 41).
Cũng như sự hiệp nhất giáo hội  cảm hứng đức ái và không cho phép sự phân rẽ giữa các kitô hữu, thì cũng có một sự liên đới giữa các thành viên của Giáo Hội, mà chẳng hạn, được biểu lộ trong sự ưu tư mang người khác trong kinh nguyện hay chịu đền tội thay cho họ. Đời sống kitô hữu không phải được xây dựng nền móng trên nguyên tắc « mỗi người cho riêng mình và Thiên Chúa cho hết mọi người » :
Mọi tín hữu đều là những chi thể của nhau (x.1Cor 12, 17), và vì thế, khi tội riêng của họ không bó buộc họ đền tội, thì những tội lỗi của anh chị em của họ mà họ tham dự vào như là làm nên cùng một thân thể, đòi hỏi họ điều đó.

Ngày thứ năm
HÃY CẦU XIN CHO TÔI TINH THẦN TÔNG ĐỒ

Tôi đã thấy như Chúa chúng ta đã biết, từ cái chết của Ngài, biết bao vinh quang sẽ về với Cha Ngài, vì ơn cứu độ của biết bao linh hồn mà cái chết của Ngài sẽ mang lại, (những lình hồn) mà dâng về Thiên Chúa những lời ca tụng, vinh dự và vinh quang bất tử. Vì thế, nơi ước muốn lớn lao làm vinh danh Người, Ngài đã sẽ cho đi trăm nghìn mạng sống, nếu Ngài đã có chúng, và cũng thế sẽ chịu trăm nghìn cái chết. Và thậm chí vì lý do này, tôi đã thấy cái chết của Ngài thật chẳng là gì đối với Ngài, và Ngài đã không thấy đau buồn và day dứt gì : để thỏa mãn ước muốn lớn lao làm tôn vinh Cha Ngài, thì mọi thứ (khác)đã qúa nhỏ bé.
Và cũng chính vào giây phút mà Người hài lòng với sự tốt lành của Chúa Giêsu, Thầy độc nhất của tôi, thì Người đồng thời đã làm cho tôi tham dự vào những tâm tình, vào tình yêu và những ước muốn khát khao tôn vinh Cha của Ngài và dâng về Người vinh dự và vinh quang cao cả này, đến nỗi tôi đã cảm thấy tâm hồn tôi hoàn toàn rực nóng ; và tôi đã cảm thấy ước muốn thiêu đốt hiến dâng cho Thiên Chúa cả nghìn mạng sống và trăm nghìn triệu mạng sống, nếu tôi đã có thể có chúng, để dâng về Người vinh quang. Sự thông truyền những tâm tình  này của Chúa Giêsu của tôi mà tôi cảm nhận ở giữa tôi, đã được thực hiện trong khoảnh khắc ; nhưng nó không sớm trôi qua, vì tôi đã có điều đó hầu như trong suốt thời gian cầu nguyện (Hồi ký, III, tr.250-251).
Cha Olier đã ghi lại trong Hồi ký của ngài một kinh nghiệm mà ngài có được trong suốt buổi cầu nguyện của ngài và có thể coi là thần bí, vì ngọn lửa nội tâm thiêu đốt ngài dường như chính là ngọn lửa của Thánh Thần xâm chiếm ngài và ban cho ngài nhiệt huyết của chính Thánh Thần để làm việc cho vinh quang của Cha.
Vì nó thực sự hệ tại tôn vinh Cha. Cha Olier nhấn mạnh rằng uớc muốn mà phải chiếm ngự nơi mỗi kitô hữu này, trước hết, đã là ước muốn của chính Chúa Giêsu Kitô. Trong Chúa Giêsu, Con của Cha, ước muốn này là vô biên : Ngài đã sẽ cho đi trăm nghìn mạng sống… và cũng thế sẽ chịu trăm nghìn cái chết ; ước muốn không thể làm thỏa lòng : mọi thứ (khác) đã quá nhỏ bé. Đó là như thể Chúa Kitô đã muốn làm nổ tung những giới hạn của nhân tính không thể chứa đựng hết ước muốn của Ngài.
Tình yêu của Ngài đối với Cha, Chúa Kitô muốn biểu lộ nó trước mặt thế gian ; Ngài muốn rằng vinh quang của Cha Ngài rạng ngời xuyên qua tất cả nhân loại. Và điều đó được thực hiện bởi ơn cứu độ nơi biết bao nhiêu người nam nữ, được ban lại sự sống nhờ bởi cái chết của Chúa Giêsu. Được trở nên những người được cứu độ nhờ thân xác bị giao nộp và máu đổ ra của Chúa Giêsu, mọi người tôn vinh Cha bằng cách dâng lên Ngài lời ca ngợi và tạ ơn của họ vì sự sống và niềm vui được lãnh nhận này.
Không thể tách ly, Chúa Kitô muốn vinh quang Cha và  ơn cứu độ con người. Người ta thường nghĩ rằng một đời sống hoàn toàn hướng về Thiên Chúa thì không thể phù hợp trọn vẹn với một đời sống hiến cho tha nhân. Chắc chắn, ở nội tâm của chúng ta, những xung đột có thể nảy sinh từ những giới hạn làm người của chúng ta, từ khó khăn của chúng ta đảm nhận được những bó buộc của thời gian và nhất là giữ vững luôn phẩm chất của ước muốn của chúng ta. Nhưng, trước hết, cha Olier  không chú ý đến những xung đột khả thể.
Những gì làm ngài quan tâm, đó là sự hiệp nhất của ước muốn tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa xuyên qua ơn cứu độ con người. Ơn cứu độ này chẳng phải là hệ tại ở nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, như Tin Mừng Gioan nói : « Sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật và Người mà Cha đã sai đến là Giêsu Kitô » (Ga 17, 3) ; và chẳng phải rằng sự kiện con người nhận biết và yêu mến Thiên Chúa mang lại cho Người vinh quang của Người sao ?
Và này đây, cha Olier chính ngài bị chiếm lấy bởi lòng ao ước Chúa Kitô được thông ban cho ngài suốt thời gian cầu nguyện của mình : Người đồng thời đã làm cho tôi tham dự vào những tâm tình, vào tình yêu này và những ước muốn khát khao tôn vinh Cha của Ngài và dâng về Người vinh dự và vinh quang cao cả này, đến nỗi tôi đã cảm thấy tâm hồn tôi hoàn toàn rực nóng.Ngay cả dù ngài không nói về sứ mạng tông đồ (apostolat), nhưng rõ ràng nó hệ tại điều đó nơi ao ước của ngài hiến dâng cho Thiên Chúa của ngài cả nghìn mạng sống và trăm nghìn triệu mạng sống, vì chúng ta biết cường độ của đời sống tông đồ mà ngài đã sống. Bởi chính sự kiện đó, ngài dạy cho chúng ta biết rằng đời sống tông đồ đích thực nảy sinh từ ngọn lửa nội tâm thiêu đốt tâm hồn Chúa Kitô và tâm hồn của các kitô hữu này :
Tôi còn thấy sáng nay…rằng tình yêu lớn lao mà Chúa cưu mang cho các linh hồn phát xuất từ tình yêu mà Ngài cưu mang đối với Cha Ngài, vì ao ước vô tận tôn vinh Người là ao ước lớn lao và độc nhất của Ngài và hiểu rằng các linh hồn có thể đóng góp vào việc tôn kính và vinh danh Người…bởi thế Ngài yêu mến các linh hồn cho đến chết cho họ vì điều đó, tìm thấy nơi họ lý do để làm vinh danh Cha Ngài.
Chúa Kitô chỉ yêu mến con người trong viễn ảnh vinh quang của Cha. Đó là cách thức của Ngài yêu mến họ vì chính ho, vì ơn gọi của họ là tôn vinh Cha.
Vào ngày 4/08/1642, ngày lễ thánh Dominique de Guznan, một trong những vị đại tông đồ của thời Trung Cổ, mà cha Olier đã viết bản văn mà chúng ta đang suy niệm. Chắc chắn bị đánh động bởi cường độ của ân sủng mà ngài đã lãnh nhận ngày hôm đó, nên chính ngài đã ghi chú nó ở bên lề của tập vở của ngài. Nhưng tinh thần tông đồ đã xâm chiếm ngài từ lâu. Ngài đã được dẫn vào tinh thần tông đồ khi tham gia vào những công cuộc truyền giáo đa dạng được khởi xướng bởi thánh Vincent de Paul, người vừa thiết lập Hội các Linh mục Thừa sai, xuyên qua các vùng nông thôn Pháp. Năm 1639, trong một bức thư gởi cho một trong các con linh hướng của mình, nữ tu Vauldray, của tu viện Regrippière, ngài tuyên bố :
Tôi viết cho xơ lời này về việc ra đi đến một xứ truyền giáo nơi tôi được sai đi. Tôi xin xơ cầu xin mạnh mẽ và thường xuyên cho tôi được tinh thần tông đồ ; vì trời ban cho tôi những ao ước mãnh liệt vì ân sủng này. Tôi coi xơ như là người được chỉ định để không ngừng cầu nguyện cho tất cả những nhu cầu của tôi. Nhu cầu mà tôi bày tỏ với xơ đây là nhu cầu lớn nhất của tôi, vì nếu tôi đạt được ân huệ này, tôi sẽ không ao ước gì hơn, không cầu xin gì với Chúa hơn là bảo tồn nó (Thư 52).
Đối với cha Olier, tinh thần tông đồ không gì khác hơn là Thánh Thần được các tông đồ lãnh nhận vào dịp Hiện Xuống. Chúng ta biết tầm quan trọng của mầu nhiệm Hiện Xuống đối với ngài. Ngài đã nhờ họa sĩ danh tiếng Charles Brun vẽ một bức tranh về Hiện Xuống cho chủng viện Xuân Bích, bức tranh đã được bảo quản cách cẩn thận và ngày nay, đối với các linh mục Xuân Bích, nó vẫn còn như là biểu tượng của tinh thần tông đồ đã chiếm ngự đấng sáng lập của họ.
Ngài rất thường khơi lên việc các tông đồ lãnh nhận Chúa Thánh Thần. Người được ban cho các ngài để làm cho các ngài mạnh mẽ khi mà trước đó các ngài vẫn còn là những trẻ con trong ân sủng. Được trở nên những kitô hữu hoàn thiện, hoàn thành, nhờ hồng ân Thánh Thần của Chúa Giêsu, này đây họ được nối kết như những thành viên của cùng một thân thể, trong họ, Chúa Thánh Thần thực hiện cùng những tâm tình, cùng những ước muốn, cùng những thiên hướng.
Từ hạt nhân tông đồ nhỏ bé này, Thánh Thần được tràn khắp, giãn rộng ra (se dilate), theo như thành ngữ được cha Olier yêu thích, nơi các môn đệ và qua họ nơi toàn thế giới. Như thế, cha Olier cho thấy một tầm nhìn vĩ đại về Giáo Hội đang mở rộng : từ Chúa Giêsu Kitô chết và phục sinh đã được mọc lên, như những bông hạt, mười hai tông đồ, rồi các môn đệ và toàn thể Giáo Hội được mở rộng trên khắp thế giới…cho đến khi chúng ta hết thảy được lên cao để nối theo vị lãnh đạo của chúng ta, sẽ ( trở lại) vào ngày phán xét lúc mà toàn thể Giáo Hội sẽ được hình thành (Hồi ký, I, tr. 296).

Ngày thứ sáu
LẠY CHÚA GIÊSU SỐNG TRONG MẸ MARIA

Lạy CHÚA GIÊSU sống trong Mẹ Maria,
xin ngự đến và sống trong các tôi tớ Chúa,
với tinh thần thánh thiện,
với sức mạnh viên mãn,
với đường lối hoàn thiện,
với nhân đức đích thực,
để chúng con được hiệp thông với các mầu nhiệm Chúa.
Xin Chúa thống trị mọi quyền lực thù nghịch,
trong sức mạnh THÁNH THẦN Chúa,
cho vinh danh CHÚA CHA.
(La journée chrétienne, p.178)
Lời kinh nguyện này được các thế hệ linh mục Xuân Bích và các chủng sinh chuyền đọc. Nó vẫn đang còn được đọc. Có thể xem nó như là bản văn của cha Olier được phổ biến và được biết đến nhiều nhất. Thế nhưng thật nghịch lý, nó không phải là chính nguyên bản. Đúng vậy, nó là một lời kinh mà ngài đã mượn lại từ cha Charles de Condren, vị linh hướng của ngài. Thế nhưng, ngài đã để lại một dấu ấn cá nhân quyết định vì cha Condren không nói về Đức Trinh Nữ Maria. Có nhiều phiên bản của lời kinh nguyện này. Chúng tôi đã chọn bản được dùng chung nhất.
Cha Olier đã kêu gọi Chúa Giêsu đến trong các tôi tớ của Ngài, những người đã chấp nhận Ngài làm chủ họ, tức là những người muốn thuộc về Ngài hoàn toàn, hiến thân cho Ngài trong tất cả cuộc sống của họ cho đến chỗ sâu thẳm nhất của chính mình. Nhưng chúng ta đã biết rằng Chúa Giêsu nuôi dưỡng với các tôi tớ Ngài một mối quan hệ hoàn toàn khác với những ông chủ nhân loại. Ngài đã chẳng gọi họ là bạn hữu của Ngài ? Và chẳng phải là Ngài không đến cư ngụ nơi họ ? Vì thế, chúng ta, những người muốn làm tôi tớ Ngài, có thể bày tỏ ước muốn này : Xin Chúa Giêsu đến cư ngụ trong chúng con để ban cho chúng con tham dự vào Thánh Thần của Ngài, để chúng con được mặc lấy những tâm tình của Ngài.
Ngài đến sống trong chúng ta ; như thế lời thánh Phaolô được thực hiện : « không còn là tôi sống nữa, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi ». Ngài muốn sống trong chúng ta bằng tinh thần thánh thiện của Ngài, nghĩa là Ngài muốn thánh hóa chúng ta bằng Thánh Thần của Ngài. Ngài muốn thông truyền cho chúng ta sức mạnh viên mãn của Ngài, nghĩa là chúng ta được ngự trị bởi quyền năng phục sinh của Ngài. Ngài muốn làm cho chúng ta tiến lên trên những con đường hoàn thiện nhất của Ngài, làm cho chúng ta cắm rễ sâu vào sự chân thật và sâu thẳm nhất của sự năng động của cuộc sống của Ngài, (Ngài muốn) để lại những mầu nhiệm của Ngài, nghĩa là tất cả những hình thức cụ thể trong đó cuộc sống của Ngài cho đến cái chết được hoàn tất, được tỏ lộ nơi cuộc sống và cái chết của chính chúng ta.
Người ta hiểu việc cha Olier gợi lên Đức Trinh Nữ Maria và cuộc sống của Chúa Giêsu nơi Mẹ. Chẳng phải rằng Mẹ là người đầu tiên đã đón nhận Ngôi Lời, trước tiên qua đức tin, tiếp đến nơi thân xác của Mẹ nhưng vì đức tin của Mẹ sao ? Chẳng phải là Mẹ là người đầu tiên đã phó thác cho Chúa Thánh Thần, người đầu tiên đã hiệp thông với các mầu nhiệm của Chúa Giêsu, người đầu tiên đã chia sẻ cách sâu thẳm đà (élan) hướng về Cha của Ngài sao ?
Từ thời thơ ấu của mình, cha Olier đã biểu lộ một lòng sùng kính trìu mến và mối tương quan thân mật kính cẩn đối với Đức Trinh Nữ Maria. Chính ngài đã kể lại trong cuốn Hồi Ký của ngài làm sao, khi cảm thấy ít được mẹ ngài yêu thương, ngài đã muốn chạy đến với Đức Maria. Suốt đời ngài, ngài đã giữ sự gần gũi này với người Mẹ đã đưa ngài đến với Con của Mẹ và là người Mẹ mà ngài đã rất thường cầu xin, giữa mọi điều nguy biến của cuộc sống thường ngày.
Nhanh chóng ngay sau sự trở lại dứt khoát của ngài, ở Lorette, Ý, mà ngài gán cho sự cầu bầu của Mẹ, ngài đã làm « lời khấn tôi tớ» (vœu de servitude) cho Đức Maria. Nó hệ tại một thực hành vào thời đó, có nguồn gốc từ Tây Ban Nha, mà người ta muốn dấn thân cam kết thuộc về Đức Maria để thuộc về Chúa Kitô tốt hơn.
Ngày nay, thuật ngữ này làm chúng ta khó chịu đôi chút, vì từ « tôi tớ » gợi lên việc nô lệ. Nhưng vào thế kỷ XVII, dĩ nhiên thuật ngữ này hệ tại sự nô lệ theo nghĩa của thánh Phaolô, tức là mở ra cho sự tự do trong Chúa Kitô. Trên thực tế, lời khấn tôi tớ là một lời khấn thánh hiến tư cho Đức Maria, thông thường được theo sau bởi sự thánh hiến cho chính Chúa Giêsu, đó quả thật là trường hợp của cha Olier.
Được đổ tràn Thánh Thần, đón nhận Thánh Thần theo cách mới mẻ, thật cao cả biết bao khả năng (lãnh nhận) ân sủng của Mẹ, Đức Trinh Nữ Maria vừa là hình ảnh vừa là sự thể hiện đầu tiên, những hoa quả đầu mùa của Giáo Hội. Cha Olier nói, Thánh Thần nhận ra nơi Mẹ một chiều sâu vâng phục bao la, và ngài kinh ngạc thấy tập hợp nơi Đức Maria tất cả những gì mà Thánh Thần Thiên Chúa sẽ tuôn đổ một ngày nào đó trên toàn thể Giáo Hội.
 Trong bức tranh mà cha Olier đã yêu cầu họa sĩ Charles le Brun vẽ cho nhà nguyện của Chủng viện Xuân Bích về chủ đề Hiện Xuống, nhà nghệ sĩ đã trình bày Đức Maria ở bên trên các môn đệ, đang nhận lửa của Thánh Thần ngự xuống trên Mẹ và tiếp đến được phân chia thành những hình lưỡi lửa trên các Tông đồ. Rõ ràng ở đây Đức Maria là hình ảnh của Giáo Hội.
Nói chuyện với một trong những người con linh hướng của mình, nhân mùa Vọng, về tầm quan trọng của mầu nhiệm Nhập Thể đối với đời sống kitô hữu, ngài gợi ý cho con linh hướng của mình chuẩn bị cho mầu nhiệm đó bằng lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội, mà theo ngài, mời gọi chúng ta tôn thờ lễ của Con (nghĩa là sự thụ thai, nhập thể của Con)…để dạy cho chúng ta biết rằng Đấng Cứu Độ Thần Linh này muốn được cưu mang trong tâm hồn của toàn thể Giáo Hội, và muốn thiết lập chỗ ở của Ngài ở đó, cuộc sống và sự ngự trị của Ngài, như Ngài đã thiết lập nơi bản tính đặc thù mà Ngài đã chọn nơi Đức Maria, khi Ngài hiệp nhất nơi Mẹ với nhân tính của chúng ta (Thư. 404).
Một lễ khác đối với ngài cũng có tầm quan trọng chủ chốt, lễ Đức Mẹ dâng mình vào Đền Thánh, ngày 21/11, mà ngài đã chọn làm lễ bổn mạng của Chủng viện và là biểu tượng của lễ dâng của Đức Maria và của sự ứng trực sẵn sàng trọn vẹn của Mẹ.
Cha Olier cũng nhấn mạnh sự hiệp nhất chặt chẽ giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, không chỉ vì mối tương quan mẹ con, nhưng trước tiên vì Chúa Giêsu thông truyền cho Mẹ Ngài, người đã đón nhận Ngài trong đức tin, sự sống mà Ngài sở hữu tròn đầy : Ngài đã hiệp thông Mẹ với Thánh Thần của Ngài, với những ơn của Ngài, với những kho tàng bao la của Ngài và với sự sống của Ngài, tắt một lời, Ngài đã tự hiến cho Mẹ tất cả (Thư. 103).
Vì thế, được thực hiện giữa Con và Mẹ một sự trao đổi kỳ diệu, như phụng vụ Giáng sinh đã nói. Đức Maria đã ban cho Chúa Giêsu nhân tính của Mẹ, đến lượt Ngài, Ngài ban cho Mẹ tất cả sự sống thần linh của Ngài. Trong khi Mẹ cưu mang Ngài, Đức Maria là thế giới của Chúa Giêsu : Đức Maria là tất cả mọi sự đối với Ngài. Mẹ là lương thực của Ngài, sự sống của Ngài, nơi cư ngụ và là Đền thờ của Ngài. Đổi lại, Chúa Giêsu thánh hóa Mẹ Ngài. Và sự trao đổi bên trong này được tiếp tục suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, xuyên qua các mầu nhiệm của Ngài nhờ đó Mẹ đã hiệp thông cách sâu xa.
Chính trong suốt cuộc đời của mình mà Đức Maria đã sống sự hiệp thông này với Con của Mẹ, và hiệp thông cho đến thập giá. Chính cha Olier trong suốt thừa tác vụ của mình như là cha sở của giáo xứ Saint-Sulpice, đã gặp biết bao khó khăn. Trong một trong những bức thư gởi cho bà Marie Rousseau, người phụ nữ đã trợ giúp ngài và là khởi đầu của việc ngài trở lại, ngài đã gợi lên đức tin không hề lay chuyển của Đức Maria trong suốt cuộc thương khó và cái chết của Chúa Giêsu để tự khích lệ mình và đồng thời khích lệ bà đứng vững giữa những thử thách và cám dỗ :
Trong thời gian đó (thời gian Thương Khó), tất cả các môn đệ, trừ thánh Gioan, đã rời bỏ Con Thiên Chúa : nhưng Đức Thánh Trinh Nữ vẫn vững vàng trong niềm tin vào Con của người, và trong sự quý mến sự cao cả của Ngài. Cùng với Mẹ, bà hãy đứng vững trong tĩnh lặng và trong bình an dưới chân thánh giá của Chúa Giêsu. Hãy giữ vững hiệp nhất sâu xa với sức mạnh của người Mẹ Thiên Chúa này, người mà Kinh Thánh cho thấy đã đứng vững trên đồi Canvê, để bảy tỏ sức mạnh tâm hồn của Mẹ, và sự kiên trì trong thử thách của Thập giá không thể tả xiết (Thư. 114)
Như thế Đức Maria là khuôn mẫu cho các Kitô hữu đón nhận Chúa Kitô trog đức tin để Ngài có thể sống các mầu nhiệm của Ngài nơi họ.

Ngày thứ bảy
TINH THẦN CỦA TÔI ĐÃ KHÔNG THỂ ĐI THẲNG ĐẾN THIÊN CHÚA

Tinh thần của người kitô hữu như là một viên đá được chống đỡ trên không bằng sợi dây thừng và bị lôi kéo xuống đất bởi chính sức nặng của nó ; viên đá  bị treo và khuấy động bởi hai chuyển động khác nhau, nó bị lôi kéo bởi hai sức mạnh trái ngược nhau, vì đức tin và Thánh Thần lôi kéo chúng ta lên cao và trái lại, xác thịt và thế gian níu kéo chúng ta xuống dưới…tinh thần chiến đấu chống lại xác thịt và lôi kéo linh hồn của chúng ta về phía nó ; trái lại, xác thịt níu kéo linh hồn về cho nó. Khi linh hồn đồng thuận với tinh thần và với những chuyển động của tinh thần  lôi kéo nó lên cao, thì nó được gọi là tinh thần, vì linh hồn chỉ trở nên một với Thánh Thần : « Ai gắn bó với Thiên Chúa chỉ là một tâm trí với Người » (1 Cor 6, 17), và khi linh hồn gắn bó với xác thịt và những lôi cuốn của nó, thì nó trở nên xác thịt, bị tan biến và chìm đắm trong bản tính và trong các khuynh hướng của nó(Hồi ký, I, tr. 301).
Để mô tả cuộc chiến đấu mà ngài sống trong nội tâm của mình để Thiên Chúa ngự trị nơi ngài, cha Olier tự nhiên nại đến những phạm trù của thánh Phaolô : xác thịt (mà ngài bổ sung bằng diễn ngữ của thánh Gioan : thế gian, theo nghĩa thế gian tội lỗi) và tinh thần. Đối với ngài, đó là cách thức khôi phục sự đương đầu của ngài với sự dữ trong một khuôn khổ rộng lớn hơn, khuôn khổ của nhân loại bị chia rẽ. Thánh Phaolô nói : có hai con người trong tôi : con người vâng theo xác thịt, con người hư hỏng, như cha Olier thường nói, nghĩa là con người tội lỗi, và con người vâng theo Thánh Thần.
Cha Olier không biến con người thành một thứ đồ chơi bị giằng co giữa hai sức mạnh đối nghịch, tranh nhau quyền bá chủ nơi con người. Chắc chắn, ngài nhìn nhận sự hiện diện và hoạt động của các thế lực của sự dữ, nhưng chúng chỉ vang vọng nơi con người bởi vì chính nó bị sự dữ làm thương tổn ; khi con người đồng thuận với sự dữ, đó là nó đồng thuận với một khuynh hướng sâu xa nơi hữu thể của mình, được ghi khắc trong nó ngay từ tội lỗi đầu tiên.
Mặt khác, hình ảnh của Thiên Chúa đã không bị hủy hoại nơi con người bị thương tổn ; lời kêu gọi hiệp thông với Thiên Chúa vẫn còn có thể vang vọng nơi nó. Chính Thiên Chúa đến khơi lên cái tốt nhất của sự tự do của con người, và đồng thời chữa lành và phục hồi nó, khi Người muốn một lần nữa mở ra cho nó con đường sự sống với Người. Và chính con người đồng thuận với chuyển động của Thánh Thần, bằng cách đáp lại tiếng gọi của Người. Dù dưới ảnh hưởng của xác thịt hay của Thánh Thần, con người do đó vẫn là chủ thể của các hành vi của mình.
Cha Olier không bao giờ nghi ngờ tự do của con người, dù đó là trước những lôi cuốn của sự dữ hay trước những thúc giục bên trong của Thánh Thần. Từ ngữ « đồng thuận » (consentir) mà ngài sử dụng ở đây rõ ràng làm nổi bật sự tự do này. Được thúc giục, được lôi cuốn, con người có thể đồng thuận hay không.
Cuộc chiến đấu giữa xác thịt và tinh thần mang một hình thức đặc thù nơi mỗi người chúng ta. Chúng ta có thể nhận ra và định rõ nó từ khi chúng ta ao ước tiến triển trong tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Vì ngay lập tức, chúng ta vấp phải những chướng ngại giam hãm chúng ta trong những gì mà thánh tông đồ Phaolô gọi là xác thịt. Chúng ở trong chúng ta như là những gì làm chúng ta tuyệt vọng về chính mình. Quả thật, chúng làm cho chúng ta luôn luôn sa vào lại chính những vết xe cũ, vào cùng những khiếm khuyết. Chỉ Thánh Thần mới có thể giải thoát chúng ta khỏi đó, nếu chúng ta để Người lôi kéo chúng ta, và nếu chúng ta đồng thuận với hoạt động của Người trong chúng ta.
Trong cuốn Hồi ký của mình, Cha Olier giải thích cuộc chiến đấu thiêng liêng của ngài thực sự nằm ở đâu khi ngài tiến hành nhìn lại cuộc khủng hoảng sâu xa đã tác động đến ngài trong thời gian giữa tháng Mười 1639 và lễ Phục Sinh năm 1641. Từ lâu, ngài đã phải chiến đấu chống lại một khuyết điểm ngăn cản ước muốn của ngài hiến dâng hoàn toàn cho Thiên Chúa, đó là tính kiêu căng (superbe) của mình. Từ ngữ này ngày nay vẫn còn được sử dụng, nhưng nó có một màu sắc hơi lỗi thời.
Thật ra nó có nghĩa là một sự pha trộn giữa tính kiêu ngạo (orgueil) và tính hư danh (vanité), làm cho cha Olier gán cho mình những hoa trái của thừa tác vụ của mình, và nhìn mình cách tự mãn. Chính cha Olier mô tả tính kiêu căng đó như là ước muốn thái quá về sự xuất chúng của mình (Dẫn vào đời sống và các nhân đức kitô giáo, tr. 54).
Đối với ngài, đời sống thiêng liêng hệ tại việc đi thẳng đến Thiên Chúa, như ngài nói thế khi lấy lại kiểu diễn tả của thánh Ignace de Loyola. Đi thẳng đến Thiên Chúa, đó là bước vào trong mối tương quan với Thiên Chúa mà không có gì ngăn cản mối tương quan này, không quay lại nơi chính mình, không lấy lại cách tinh vi từ tay này cái mà chúng ta đã cho đi từ tay kia. Đi thẳng đến Thiên Chúa, đó cũng là đi thẳng đến tha nhân, mà không thu về cho bản thân điều mà chúng ta đã làm cho họ. Vì lý tưởng sẽ là đón nhận cách đơn sơ từ Thiên Chúa tất cả những ưu phẩm của Người và không lấy gì làm của mình.
Than ôi, cha Olier nói, khi bàn về những gì ngài cảm nghiệm trong suốt cuộc khủng hoảng của mình, tinh thần của ngài đã luôn luôn sai lệch và…không thể đi thẳng đến Thiên Chúa, nó đã kiệt sức chán nản, không thể thoát ra khỏi đó và không cách nào có thể vươn lên trên chính mình và thế gian,(không thể có được) nỗ lực nào đó mà nó đã muốn thực hiện (Hồi ký, I, tr. 142). Như thế, ngài đã kinh nghiệm về sự giam hãm trong xác thịt, trong sự bất lực mà chính ngài cảm thấy không thể thoát ra khỏi tính kiêu căng đang xiềng xích ngài.
Chúng ta hiểu rằng khuyết điểm này đã cản trở cha Olier rất nhiều trong sự tiến triển đời sống thiêng liêng của ngài. Nó quấy rối ngài theo cùng mức độ của sự quảng đại lớn lao của ngài. Vì ước muốn sâu xa nhất của ngài là chỉ hoàn toàn yêu mến Thiên Chúa ; ngài đã nhận thấy khía cạnh nực cười của sự tìm kiếm sự xuất chúng của mình này. Ngài nhận ra sự mâu thuẫn thần học của nó bởi vì con người chỉ có thể giữ được sự cao cả của nó từ Thiên Chúa và chỉ có thể cam đảm nhìn ngắm nó trong chừng mực mà con người lãnh nhận nó. Về sau, cha Olier sẽ nói về điều đó như là một sự mù quáng kinh khủng.
Nhưng làm gì để chống lại khuynh hướng nặng nề này của bản tính con người ? Rất thường, khi chúng ta đối đầu với cám dỗ,  thì chúng ta đặc biệt (chỉ) nhìn thấy những nỗ lực mà chúng ta phải tỏ rõ để chiến đấu, và chúng ta quá trông cậy và sức mạnh của riêng chúng ta. Những gì mang lại cho người kitô hữu niềm hy vọng, đó là những khuynh hướng xấu của họ bị chống lại bởi những khuynh hướng mà phép rửa đã sinh ra nơi họ. Trái với những gì mà đôi khi chúng ta nghĩ, cuộc chiến đấu thiêng liêng có thể được thực hiện cách tin tưởng :
qua lần sinh ra đầu tiên, linh hồn đã có những khuynh hướng đáng thương mang nó hoàn toàn đến với tội lỗi, hoàn toàn đến với trần gian và với các thụ tạo. Trái lại, nhờ việc tái sinh của phép rửa, nó lãnh nhận những dấu ấn mới và những khuynh hướng hoàn toàn khác, mang nó lại với tình yêu Thiên Chúa, với việc thờ phượng Người, với sự tách rời các thụ tạo và với sự tìm kiếm những sự trên trời (Giáo lý kitô giáo cho đời sống nội tâm, bài 7, tr. 23).
Bởi thế, đối với cha Olier, sự nản lòng là không thích hợp. Con người không tất phải để cho sự dữ lèo lái. Nhờ phép rửa, con người không còn có mà quỷ làm cha nữa, nhưng chính Thiên Chúa. Thánh Thần ở trong con người để dẫn đưa con người thẳng đến Thiên Chúa, giải thoát nó khỏi chính mình và mở cho nó những cánh cửa tự do.
Thật ra, chúng ta thường quên lời của Chúa Kitô : Thầy đã thắng thế gian. Cha Jean-Jacques Olier  đã sống đức tin và niềm hy vọng này. Ngài nói về sự tin tưởng mà chúng ta phải có trong lời cầu nguyện, sự tin tưởng được xây dựng trên sự cầu bầu của Đấng Phục Sinh :
Và tòm lại, để nói với anh em điều này, những gì mà tôi nghĩ là chính yếu trong việc cầu nguyện, sau sự khiêm tốn và sự đau buồn về những tội lỗi của mình, (đó) là bước vào đó được trang bị bằng sự tin tưởng và đức tin hoàn hảo, được xây dựng trên những lời này của Chúa chúng ta : « Những gì anh em  sẽ cầu xin với Cha của Thầy nhân danh Thầy, thì Người sẽ ban cho anh em điều ấy » (Ga 16, 23).

Ngày thứ tám
SỰ KHỐN KHỔ CỦA TÂM HỒN CON NGƯỜI

Đối với sự tôn kính Chúa Thánh Thần mà tôi vừa nói đến và đã giúp tôi rõ ràng như thế và, liên lỉ, tôi nghĩ đã không bao giờ lãnh nhận Người ; và tôi đã không thể tin rằng Người đã ở trong tôi. Tôi luôn luôn nói những lời này : « Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con một quả tim trong sạch và xin đổi mới nơi con Tinh Thần ngay thẳng của Chúa » (Tv 50, 12). Tôi đã luôn cầu xin Thánh Thần. Và vì như Thiên Chúa nhân lành của chúng ta đã muốn dạy cho tôi đừng hành động theo tinh thần của mình nữa, nên tôi bắt đầu nhận biết sự xấu xa và tính hư hỏng của tinh thần của tôi. Người đã làm cho tôi cảm thấy sự hư hỏng của nó. Người làm cho tôi cảm nghiệm, như tôi đã không thể làm gì tốt, rằng ở đâu tôi đã xen vào, thì tôi làm hỏng tất cả, ở đâu tinh thần tôi dự phần, thì nó luôn lệch lạc và đã không thể đi thẳng đến Thiên Chúa. Đến nỗi qua đó tôi học biết rằng cần phải có một tinh thần khác, cần phải có một tinh thần mới, ngay thẳng, không sai lệch, luôn luôn đi đến Thiên Chúa bởi vì tinh thần của tôi đã luôn đi sai lạc và và chỉ nghĩ đến bản thân hay các thụ tạo.  Và vì thế, Thiên Chúa đã để mặc nơi tôi tinh thần kiệt sức chán nản, không thể thoát ra khỏi đó và không cách nào có thể vươn lên trên chính mình và thế gian,(không thể có được) nỗ lực nào đó mà nó đã muốn thực hiện, đến nỗi tôi đã có đủ thời gian tự thuyết phục bằng kinh nghiệm của bản thân đâu là sự khốn khổ của tâm hồn con người luôn hướng đến trần gian, đâu là sự khốn khổ của tinh thần con người không bao giờ nhìn Thiên Chúa, không hướng thẳng đến Người (Hồi ký, I, tr. 141).
Bản văn này, mà độc giả sẽ nhận ra một số câu đã được trích dẫn ngày trước, mô tả sự khủng hoảng tâm lý và thiêng liêng mà cha Olier đã trải qua khoảng giữa tháng Mười 1639 và lễ Phục Sinh năm 1641. Lúc đó, ngài thấy mình ở trong một hoàn cảnh mong manh. Mệt mỏi bởi những sứ mệnh truyền giáo mà ngài vừa rao giảng và bởi một căn bệnh nghiêm trọng, vì thế ngài vẫn còn bấp bênh về tương lai của mình.
Đang thực thi sứ mệnh ở Chartres cùng với các bạn hữu thường ngày của mình, ngài rơi vào trong một hình thức trầm uất mà tâm lý và thiêng liêng pha trộn lẫn nhau. Ngài đã mất dòng ý tưởng của mình, trí nhớ rời xa ngài. Cho đến lúc đó ngài là nhà giảng thuyết sáng giá, thế nhưng đôi khi ngài đã phải dừng lại giữa chừng bài giảng. Ở tòa giải tội, ngài không còn tìm ra được lời để khuyên các hối nhân. Ngay cả ở những cuộc nói chuyện thường ngày ngài cũng không có tiếng nói. Ngài cho biết mẹ ngài cho ngài là người điên.
Điều tác động đến ngài sâu xa nhất, đó là sự khô khan trong đời sống cầu nguyện của mình. Ngài thường quen với những an ủi cảm giác mà ngài gọi là sự âu yếm của Thiên Chúa, nay thình lình thấy mình bị chìm vào trong một thế giới nội tâm khô cằn : tôi không còn bất kỳ an ủi hay dấu hiệu nào là tôi đựoc Thiên Chúa yêu thương – đó là sự tử đạo lớn lao của tôi. Những người khác dường như không còn là sự trợ giúp gì cho ngài ; trái lại, ngài cho là mình bị họ bỏ rơi và ngay cả vị linh hướng của ngài.
Đồng thời ngài cảm thấy gia tăng những cám dỗ kiêu ngạo :
Ngoài thời gian đó ra, tôi luôn luôn ở trong bóng tối, luôn luôn khô khan, luôn trống rỗng không có Thiên Chúa, ít ra cũng theo những tình cảm, tôi hoàn toàn bị ngập tràn bởi những cơn kiêu ngạo và tự ái, và đã không thể cảm thấy điều gì khác, luôn bị vây quanh bởi sự kính trọng của người đời, luôn bị nỗi sợ hãi chiếm lấy, luôn tìm kiếm bằng sức mạnh và trong sự bất lực suy nghĩ cách khác, đâu là sự xét đoán của thiên hạ dành cho tôi…(Hồi ký, I, tr. 146).
Sự tuyệt vọng không xa, và ngài cảm thấy bị cám dỗ về điều đó. Ngài sợ bị thử thách. Ngài quay cuồng, dường như không mở ra lối thoát nào.
Chúng ta hãy dừng lại ở cuộc băng qua sa mạc này mà có những âm vang sâu xa nơi chúng ta. Cha Olier rõ ràng là con người hiện đại của chúng ta. Biết bao nhiêu người đã bị chạm đến bởi những khủng hoảng căn tính tương tự ! người ta không còn biết mình là ai nữa, không còn tìm thấy sự nương tựa nơi Thiên Chúa ; sự tối tăm xâm chiếm các bạn. Những khuynh hướng xấu mà các bạn đã quảng đại thử chiến đấu dường như rõ rệt hơn bao giờ hết đối với các bạn. Các bạn tuyệt vọng về chính mình. Các bạn cảm thấy xa lạ đối với người khác ; các bạn xa rời họ bởi vì các bạn nghĩ rằng họ không hiểu các bạn. Sự rầu rỉ, buồn sầu là không khí thường ngày của các bạn. Các bạn không còn muốn làm gì nữa. Những triệu chứng là đa dạng, mang lấy những sắc thái đặc thù tùy theo người.
Ngài đã rút ra những bài học gì từ sự thử thách kéo dài này ? Trước hết, điều chắc chắn là ngài mỏng giòn và yếu đuối. Cho đến lúc đó, ngài rất thành công. Và thình lình ngài trở nên bất lực. Như thế ngài hiểu rằng có lẽ ngài không mạnh/giỏi như ngài tưởng ; tuy nhiên, ngài biết rõ rằng tất cả ngài đã nhờ Thiên Chúa, nhưng ngài đã không cảm nghiệm điều đó cho đến thấu đáo. Bây giờ ngài hiểu rằng để mặc chính mình, ngài không thể hoàn toàn tự do đi đến Thiên Chúa và tha nhân.
Cha Olier nói về sự xấu xa (laideur) và sự hư hỏng (corruption) của tinh thần của ngài. Ngày nay chúng ta không còn sử dụng những từ ngữ này, chúng ta nói về những vết thương thiêng liêng hơn, những vết thương của nguyên tội và của tội lỗi của chúng ta. Chúng ta là những hữu thể bị sự dữ làm tổn thương, và như mọi hữu thể bị tổn thương, chúng ta có khuynh hướng nhìn ngắm chính mình, nổi loạn, biện minh cho những giới hạn rất hiển nhiên của chúng ta, tuyệt vọng về chính mình.
Sau khi đã nỗ lực chiến đấu, cha Olier đã chấp nhận thừa nhận sự nghèo nàn của con người bị tổn thương ngài. Ngài đã chấp nhận cần đến Thiên Chúa, không phải thỉnh thoảng, nhưng luôn luôn và cách nền tảng. Ngài đã chấp nhận cần đến một tinh thần khác hơn là tinh thần của ngài, không phải để thay thế cho tinh thần của ngài, nhưng để nâng đỡ nó, ở với nó, mang nó, giúp nó sống những gì, mà để mặc chính mình, ngài đã không thể sống ; một tinh thần mà ngài phải phó thác, buông mình, như ngài nói, để nhân tính của chúng ta triển nở trọn vẹn theo ơn gọi hiếu thảo và huynh đệ. Chẳng có gì tốt  được thực hiện trong đời sống thiêng liêng mà không chấp nhận những giới hạn làm người này của chúng ta và không có sự đồng thuận với sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần Thiên Chúa nơi chúng ta.
Suốt cuộc khủng hoảng này, cha Olier cũng ý thức về tầm quan trọng mà hình ảnh cá nhân của ngài có đối với bản thân. Khi chiếm giữ ngài làm tù nhân của nó, cách hùng hồn sự trầm uất cho ngài thấy khuynh hướng sâu xa tự nhìn ngắm mình cách thỏa mãn và tự lượng giá nơi cái nhìn của người khác. Sự cám dỗ rất thường về gương soi và cũng như về sự so sánh, về ước muốn được quý mến, được mọi người biết đến, được thán phục và ca tụng. Sự quay về với chính mình này chỉ làm nảy sinh một sự an toàn bên ngoài, bởi vì nó luôn luôn cần được xác minh và nó có thể bị đặt vấn đề không ngừng.
Nhưng thật may mắn, người ta có thể ngừng mất thời gian tự nhìn ngắm chính mình, có thể tin tưởng vào Thánh Thần và phó thác hình ảnh của mình trong đôi bàn tay của Thiên Chúa. Hồng y Bérulle nói, trước tiên, cần phải nhìn ngắm Thiên Chúa. Cái nhìn đích thực về bản thân chúng ta được ban cho chúng ta trong sự chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Thiên Chúa. Về phía mình, cha Olier thậm chí khuyên đừng bới lông tìm vết những khuyết điểm của chúng ta để sửa chữa, nhưng đúng hơn phó mình nhiều hơn cho Chúa Thánh Thần đang cư ngụ trong chúng ta, để Người nâng chúng ta lên trên chính mình và để Người làm cho chúng ta thực hiện công việc của chúng ta nhờ Người (Hồi ký, I, tr. 144).
Nếu chúng ta chấp nhận bước đi cách tin tưởng trong những hoang mạc được trao cho chúng ta để băng qua, thì chúng ta thấy làm thế nào một ánh sáng dần dần tỏ lộ ra, sẽ soi sáng cho chúng ta về chính bản thân của chúng ta và về mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Cuộc khủng hoảng không chỉ là một khoảnh khắc xấu phải trải qua, nhưng nó còn mang nơi mình một sự phì nhiêu đích thực. Nó có thể sản sinh ra một con người mới. Đó đã là trường hợp của cha Jean-Jacques Olier.

Ngày thứ chín
TÔI ĐÃ BẮT ĐẦU THỞ VÀ CƯỜI

Bởi thế, nhờ kinh nghiệm của tôi và ánh sáng ân sủng, (tôi) biết rằng tôi thật khốn khổ là thế nào, không thể làm điều thiện hảo, hướng chiều về sự dữ, sau cùng linh hồn tôi (nghiêng chiều về) xác thịt biết bao, và thế nhưng, tôi cảm nhận những hiệu quả thần linh, những hiệu quả của Thánh Thần trong tôi, tôi đã nói : Đó là Thiên Chúa, đó là Thánh Thần của Người  làm những điều này. Và tôi đã không có phần nào, trái lại, tôi đã kinh ngạc trước biết bao nhiêu thay đổi chớp nhoáng, trước bao nhiêu ánh sáng đối với bóng tối, bao rõ ràng trong tư tưởng của tôi đối với bao lờ mờ, dễ dàng ăn nói biết bao đối với bấy nhiêu lúng túng, bao là hiệu quả tốt của lời nói đối với bao là khô khan mà tôi đã cảm nghiệm được nơi tôi và thậm chí tôi đã gây ra nơi ngươi khác, bao là tâm tình yêu thương và nâng mình lên với Chúa đối với sự bận tâm tồi tệ và bất hạnh về chính mình, đến độ tôi buộc phải thú nhận : đó là Thánh Thần Thiên Chúa (Hồi ký, I, tr. 143-144).
Sự mô tả của cha Olier về sự thay đổi tận căn diễn ra nơi ngài đầy những kỷ niệm ngạc nhiên thán phục về sự chữa lành tràn ngập toàn hữu thể, thân xác và tinh thần của ngài : ngài đã tìm lại được sự mạch lạc của tư tưởng, sự ăn nói dễ dàng ; một lần nữa ngài bước vào trong sự tương giao với những người lắng nghe ngài và lời nói của ngài làm cho họ xúc động, ngài cho họ sở thích Thiên Chúa ; ngài thông chuyển cho họ sự năng động thiêng liêng bây giờ vọt ra nơi ngài ; ngài ngừng bận tâm liên miên về chính mình.
Tóm lại, đó là một người hạnh phúc và tự do mà chúng ta có trước mắt chúng ta. Hạnh phúc và tự do mà ngài diễn tả bằng những từ ngữ rất đơn giản : chính ở nơi nhà thờ Đức Bà Chartres này mà tôi đã bắt đầu thở và cười, điều mà tôi đã không thể trong suốt những đêm tối và sóng gió này (Hồi ký, I, tr. 142). Thở và cười, hai từ ngữ nói lên sự thư giãn và sự tự do của toàn thể hữu thể mà ngài cảm nghiệm, và đánh dấu sự khởi đầu của đời sống mới của ngài.
Vậy, đã diễn ra điều gì ? Điều gì đó rất đơn giản : chính ngài không thể tống khứ được tính kiêu căng của mình, cuối cùng ngài phải phó thác nó cho Thiên Chúa ; ngài đã nhận ra được sự nghèo nàn của mình, tội lỗi của mình, và ngài đã gởi gắm chúng cho cho Người. Qua đó, ngài nhấn mạnh một khía cạnh thiết yếu của đời sống thiêng liêng : bao lâu chúng ta muốn tự mình thoát ra, thì chúng ta vẫn bị giam hãm trong những khuynh hướng xấu và những lỗi lầm của chúng ta. Chúng ta như đứng trước một bức tường không muốn nhượng bộ. Chúng ta lại sa ngã luôn và chỉ làm cho chúng ta nản lòng.
Chúng ta muốn xứng đáng đối với Thiên Chúa để hiện diện trước nhan Người, và do đó, chúng ta muốn loại bỏ những thói quen xấu hạ thấp chúng ta, làm cho chúng ta mặc cảm tội lỗi và ngăn cản cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa.
Thế nhưng, Chúa muốn tiếp đón chúng ta như chúng ta là, với những yếu đuối và khốn khổ của chúng ta. Chính Ngài và duy chỉ mình Ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi đó. Ngài nói với chúng ta :không có Thầy, các con không thể làm gì được. Ngài muốn rằng thay vì tự nhìn ngắm bản thân, bới lông tìm vết (éplucher) chúng ta, như cha Olier nói, thì bằng sự khiêm tốn mở cửa phó thác trong tay Ngài, chúng ta để Ngài nhìn chúng ta và yêu thương chúng ta cách đơn sơ. Ngài muốn rằng chúng ta để cho Ngài làm trong chúng ta những gì chính chúng ta không thể làm được.
Chính nơi kinh nghiệm nền tảng này mà cha Olier đã học biết buông mình cho Chúa Thánh Thần, để Thánh Thần làm việc trong ngài. Ngài đã gởi gắm cho Thiên Chúa sự thánh thiện của ngài. Ngài sẽ không nên thánh bởi sức lực riêng của mình và như ngài muốn. Thánh Thần sẽ ở trong ngài để làm cho ngài hành động cách thánh thiện.
Thế nhưng không phải vì thế mà ngài được giải thoát hoàn toàn khỏi khuynh hướng kiêu căng của mình. Được chữa lành không muốn nói rằng từ nay mọi sự sẽ hoàn hảo. Cha Olier đã cảm nghiệm sức đè nặng này của con người tội lỗi, chính ngài đã thú nhận điều đó trong cuốn Hồi ký của mình : Những ngày vừa qua tôi đã hoàn toàn sầu khổ bởi những sự quay trở lại quấy rầy này (Hồi ký, I, tr. 111).
Nhưng ngài không còn bị rối loạn nữa. Điều đó không còn là một trở ngại nữa trong hành trình của ngài về với Thiên Chúa. Như Giacóp, ngài đã hiểu rằng con người có thể ra khỏi cuộc chiến thiêng liêng đi khập khiểng, nhưng đi khập khiểng không ngăn cản ngài đi về Thiên Chúa, với điều kiện nương tựa vào Người.
Dĩ nhiên, sự kiện cha Olier đã sống sự giải thoát này trong bối cảnh lễ Phục Sinh cho thấy một đặc tính tượng trưng. Đó là ân sủng phục sinh mà ngài đã lãnh nhận được. Nếu quả thật tiêu điểm của đời sống thiêng liêng của ngài đã là mầu nhiệm Nhập Thể, thì ngài đã thường nói về sự phục sinh. Ngài nhận ra ở đó một mầu nhiệm hoàn tất của nhân tính của Chúa Giêsu, mầu nhiệm mà Chúa Giêsu bước vào trong sự thánh thiện, trong sự rạng ngời và trong quyền năng của Cha Ngài (Hồi ký, IV, tr.24-25).
Mầu nhiệm được bắt đầu nơi Chúa Giêsu nhờ sự hiện diện của Thánh Thần nơi Ngài, Đấng liên kết Ngài với Cha, cũng được bắt đầu nơi chúng ta bằng Thánh Thần được lãnh nhận khi chúng ta chịu phép rửa. Chúng ta sống sự phục sinh của Chúa Kitô rồi và cuộc sống của chúng ta được biến đổi từ đó. Cha Olier đặc biệt nhấn mạnh sự kiện rằng từ bây giờ cuộc sống của chúng ta ở dưới dấu chỉ của tiếng mời gọi của Cha.
Chúa Cha mời gọi chúng ta sống sự sống của Người ; đó đã là trường hợp trên trần gian này khi chúng ta tin vào Đấng mà Người sai đến ; nhưng Người cũng mời gọi chúng ta chia sẻ sự sống sung mãn của Người bên kia sự chết. Cuộc sống của chúng ta được hoàn tất trong Thiên Chúa. Thiên Chúa muốn lãnh lấy chúng ta với Người, và cuộc sống của chúng ta được xuyên qua bởi tiếng gọi này trong đó tình yêu của Người vang vọng.
Ân sủng phục sinh sinh ra nơi cha Olier những hiệu quả có thể nhận thấy được. Trước tiên, sự kết hiệp với Thiên Chúa như thế mà trước đó ngài vẫn còn chưa nhận biết :
Sự kết hiệp như thế là rất mật thiết […] đến nỗi tôi không thể thấy hay cảm thấy gì trong tôi mà đã không phải là Người. Người đã là tất cả trong tôi và tôi, tất cả trong Người, cả ngàn lần hơn thanh sắt ở trong lửa, lửa trong thanh sắt. Điều kỳ lạ rằng sự kết hiệp này là khó có thể tưởng tượng được, nó hầu như là sự hiệp nhất (Divers écrits. 2186, 77).
Ngài không chỉ đi thẳng đến Thiên Chúa, nhưng còn cùng với Người bước vào trong một sự kết hiệp thần bí đích thực mà ngài thể hiện như ngài có thể trong một ngôn ngữ mà những lối diễn tả của thánh Gioan được ngầm nhận ra : « Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong các con » (Ga 15, 4). Chướng ngại lớn lao được dựng nên giữa ngài và Thiên Chúa đã được xóa bỏ, ngài có thể phó mình hoàn toàn cho tình yêu, không quay về với bản thân. Sự hiệp thông được thực hiện giữa Chúa Kitô và ngài làm cho ngài hướng đến Thiên Chúa bằng tất cả ước muốn mãnh liệt của ngài như Chúa Kitô hướng đến Cha Ngài :
Dường như tôi không sống nữa, chính Chúa sống trong tôi, vì tôi chỉ cảm thấy ước muốn ca ngợi, yêu mến và nhận biết Thiên Chúa, tôi không muốn gì ngoài Thiên Chúa và bằng lòng không bao giờ làm gì khác hơn là thuộc về Thiên Chúa luôn mãi : Thiên Chúa, luôn luôn Thiên Chúa và không gì thêm nữa (Divers écrits. 2186, 98).
Nhưng sự kết hiệp với Thiên Chúa đi đôi với sự mở rộng hoàn toàn đức ái tông đồ của ngài. Từ việc chữa lành của mình, từ nay, ngài sẽ vận dụng mọi khả năng ngài có. Một vài tháng sau, ơn gọi đào tạo linh mục của ngài sẽ bắt đầu rõ ra ; ngài cũng khá tự do để chấp nhận làm cha sở giáo xứ Saint-Sulpice, đang khi mà ngài không ở trong những thói quen của thời đó là một người quý tộc, như người ta nói lúc ấy, trở thành cha sở của một giáo xứ ngoại ô, như là giáo xứ Saint-Sulpice thời đó, và thực thi thừa tác vụ ở đó.
Những người thân trong dòng họ của ngài đã không thừa nhận ngài, nhưng hình ảnh về bản thân của ngài không còn làm ngài bận tâm nữa. Sự giải thoát này mà cha Olier nhận biết lúc đó cho thấy cuộc chiến đấu thiêng liêng, khi được sống đến cùng, tỏ ra nơi người kitô hữu những nghị lực tông đồ và giao phó mình cho anh em của mình cũng như cho Thiên Chúa là thế nào. Cha Olier đã trở nên tự do để phục vụ, đó là dấu ấn của sự tự do Tin Mừng.

Ngày thứ mười
THẬP GIÁ : SỨC MẠNH PHỔ QUÁT CỦA GIÁO HỘI

Đời sống kitô hữu có hai phần: sự chết và sự sống. Sự chết làm nền tảng cho sự sống. Điều đó được lập đi lập lại trong các thư của thánh Phaolô, đặc biệt trong chương 6 của thư gởi tín hữu Rôma: «Anh em không biết rằng khi được dìm vào nước thanh tẩy trong Chúa Giêsu Kitô, chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì nhờ phép Rửa, chúng ta được chết và mai táng với người, để, như Ngài đã phục sinh, chúng ta cũng được sống một đời sống mới ». Và sau đó, ngài thêm: «Anh em hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi và sống cho Thiên Chúa trong Chúa Kitô Giêsu » (Rm 6, 3 tt). Và trong rất nhiều nơi khác, ngài đã lập đi lập lại hai khía cạnh này của cuộc sống kitô hữu : tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, đến độ sự chết phải luôn đi trước sự sống. Và sự chết này không gì khác hơn là sự chết đi hoàn toàn của toàn thể chúng ta, để, khi tất cả những gì đối lập với Thiên Chúa nơi chúng ta bị tiêu diệt, Thánh Thần của Người cư ngụ ở đó bằng đường lối thuần khiết và thánh thiện của Ngài (Introduction à la vie et aux vertus chrétiennes, ch. 3, p. 18).
Nhịp sống kitô giáo là một nhịp sống phục sinh. Ở đó, sự chết đi trước sự sống. Nhưng sự sống là quyết định, vĩnh hằng, nó không quay hồi lại sự chết như chu kỳ lập đi lập lại sống rồi chết của các thực tại nhân loại. Như chúng ta đã thấy ở giai đoạn trước, một khi đã bắt đầu trên cõi đời này, sự sống vĩnh cửu triển nở trọn vẹn bên kia cái chết.
Khi cha Olier nói về mầu nhiệm Chúa Kitô, ngài hiếm khi nói về chỉ mình Chúa Kitô, nhưng về Chúa Kitô thực hiện và hoàn tất mầu nhiệm của Ngài, như thánh Phaolô nói, nơi Thân Thể của Ngài là Giáo Hội. Vì thế, đối với người Kitô hữu chúng ta, chết và sống trong Chúa Kitô, đó là chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa, sống vì Thiên Chúa, hay còn là chết đối với tất cả những gì đối lập với Thiên Chúa nơi chúng ta, để cho Thánh Thần cư ngụ ở đó bằng đường lối thuần khiết và thánh thiện của Ngài. Vì thế, mục tiêu, đó là sự thánh thiện, tức là đức ái ; nhưng không thể yêu thực sự nếu không từ bỏ chính mình.
Thử thách, đau khổ, dưới mọi hình thức của nó, là những nơi thích hợp để chúng ta học biết sự từ bỏ này. Việc từ bỏ này đào sâu nơi chúng ta chỗ của đức ái được sáng tỏ nơi tình yêu của Chúa Kitô trên thập giá. Cha Olier đã nhắc nhở cho một trong các môn sinh của ngài, đang vấp phải những chống đối, rằng đức ái công trình hoàn hảo của Thánh Thần được đổ tràn nơi những tâm hồn sầu khổ (Rm 5, 5) (Thư. 410). Dĩ nhiên, với điều kiện là thử thách phải là nơi hiệp thông với Chúa Kitô chịu đóng đinh.
Như chẳng hạn, cha Olier không do dự kêu gọi đến các thánh tử vì đạo :
Họ không có sự phòng vệ nào khác trong khổ hình của họ hơn là sức mạnh nội tâm của Con Thiên Chúa, mà tâm trí họ gắn bó sâu xa trong sự thinh lặng và binh an, đang khi mọi thứ bên ngoài của họ đều bị bỏ mặc, chìm ngập, hư hoại trong nỗi đau khổ. Chúng ta hãy trang bị và được đánh động bởi Chúa Kitô để đi đến với thập giá (Thư. 410).
Và ngài thêm rằng khi loan báo Tin Mừng thực sự, thì việc gặp phải chống đối chẳng gây ngạc nhiên chút nào : đó là đặc điểm của chân lý thần linh. Người ta thường thích đức tính sai lầm này là muốn có sự dễ dãi tiện nghi, hay vẻ bề ngoài của một thứ kitô giáo dối trá không muốn gì gây chướng ngại cho mình. Kitô giáo đích thực chạm đến con người tội lỗi nơi chúng ta. Hãy luôn có trước mắt anh em đại châm ngôn này của Thầy : ai không mang thập giá mình mọi ngày sẽ không phải là môn đệ của Chúa Giêsu Kitô (Lc 14, 27) (Thư. 410).
Chúng ta thấy rằng, đối với cha Olier, thập giá nằm ở trung tâm của đời sống tông đồ và của tất cả đời sống tin mừng nhiệt tâm. Ngài đã chuẩn bị cho các con linh hướng của mình cách có sư phạm. Chẳng hạn trường hợp xơ Vauldray, nữ tu của dòng Regrippière. Dòng này cần có nhu cầu canh tân mà các xơ lại có những lập trường rất khác nhau. Cha Olier đã hé cho xơ Vauldray thấy những thử thách sắp đến, sau khi sœur đã trải qua những khó khăn, và cuối cùng trở về với trào lưu cải cách :
Nếu Chúa thấy xơ quảng đại phục vụ Ngài, thì sẽ xảy đến một thời điểm mà tất cả sẽ nổi lên chống lại xơ, và có thể những xơ…sợ làm phật lòng xơ hơn sẽ là những kẻ thù đáng sợ nhất của xơ (Thư. 21).
Vì thế, con người tội lỗi phải chết đi nơi chúng ta để nhường chỗ cho Thánh Thần, Đấng duy nhất có thể sinh ra nơi chúng ta đức ái, diễn tả hoàn hảo của con người mới. Và con người tội lỗi chỉ có thể chết đi nhờ công trình của thập giá mà Chúa Kitô thực hiện nơi chúng ta. Trong cuộc thương khó và trong cái chết của Ngài, Chúa Kitô đã chỉ là tình yêu và tha thứ, và như thế mà Ngài đã khai mở cho chúng ta con đường của đức ái.
Nếu chúng ta muốn sống đức ái của Chúa Kitô, chúng ta cần phải hiệp thông với mầu nhiệm thập giá là mầu nhiệm tình yêu. Điều đó được thể hiện nơi chúng ta nhờ phép Rửa mà chúng ta được « mai táng với Chúa Kitô trong cái chết của Ngài » (Rm 6, 4). Nhưng trong đời sống thường nhật của chúng ta, phần mình, chúng ta còn cần phải lấy lại những gì đã được ghi khắc trong chúng ta qua bí tích (Rửa tội). Trong Hồi Ký của mình, cha Olier đã viết một trang rất đẹp về đức ái :
Đức ái, từ này muốn nói điều gì ? Đó chính là sự chuyển động êm dịu mà anh em cảm nhận được tự sâu thẳm tâm hồn mình, đưa anh em đến với Thiên Chúa, với tha nhân và với sự chết đi cho chính mình. Sự chuyển động êm dịu, yên bình này, cái thiên hướng thánh thiện hướng đến những gì nó là, và nhất là hướng đến Thiên Chúa và tha nhân, cái đó được gọi là đức ái. Bởi thế, hãy làm mọi sự trong đức ái, bởi đức ái, nghĩa là hãy làm tất cả bởi nguyên lý êm dịu, thánh thiện và yên bình này của Thánh Thần, Đấng nhìn đến anh em, mang anh em và thúc đẩy anh em đến mọi sự.
Nhưng để sống đức ái như thế, cần phải từ bỏ và không còn sống cho mình nữa, nghĩa là không còn coi những tâm tình riêng, những chuyển động riêng, những ý muốn riêng của mình là cội rễ của lối sống của mình nữa. Vì thế, người Kitô hữu phải từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình (Lc 9, 23), nghĩa là người Kitô hữu mang lấy tất cả những thứ trái ngược với họ, tất cả những thứ làm họ khổ chế, tất cả những thứ đối nghịch với xác thịt (Hồi Ký, I, tr. 327-328).
Người ta thấy, thập giá không hề loại trừ niềm vui. Quả thế, chúng ta càng bước vào trong mầu nhiệm của Chúa Kitô chịu đóng đinh, thì đức ái càng lớn lên nơi chúng ta ; và đức ái phát sinh niềm vui, nó là hoa trái của sự phục sinh.
Một trong những xác tín đức tin lớn nơi cha Olier, đó là sự hiệp thông của các thánh và sự hiệu quả của lời cầu nguyện và của sự đau khổ được hiến dâng cho nhau. Ngài chắc chắn rằng nhiều người đã cầu nguyện và chịu đau khổ nhiều cho ngài, để Thiên Chúa cứu ngài khỏi tội lỗi và dẫn ngài bước theo Chúa Kitô. Trong số những người này, Mẹ Agnès de Langeac chiếm một chỗ đặc biệt.
Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của ngài với Nữ tu viện trưởng tu viện các nữ tu Đa Minh Langeac này vào năm 1636 có tính cách quyết định đối với thừa tác vụ của ngài ; Mẹ đã giúp ngài khám phá ra ý nghĩa của thập giá và lòng thương xót của Thiên Chúa. Hai năm trước khi họ gặp nhau mà không hề biết nhau, Mẹ đã nói với ngài trong một cuộc trao đổi nội tâm huyền bí : Tôi khóc cho cha.
Khi ngài tường thuật lại những biến cố này trong Hồi Ký của mình vài năm sau đó, đối với ngài, rõ rằng rằng những dòng nước mắt của Mẹ Agnès , những đau khổ của mẹ dâng cho ngài đã là những dụng cụ cho sự hoán cải của ngài. Ngài đã xác tín rằng ơn cứu độ là một công trình mà Thiên Chúa thực hiện trong và nhờ Giáo Hội của Ngài, dĩ nhiên trong các bí tích nhưng cũng qua lời cầu nguyện và những thập giá đảm nhận cho nhau.

Ngày  thứ mười một
THẦY SAI ANH EM ĐI RAO GIẢNG LỜI CỦA THẦY

Họ sẽ luôn luôn mang nơi mình Tin Mừng rất thánh của Ngài, để, theo như (lời) ngôn sứ nói phúc thay ai suy gẫm luật Chúa đêm ngày (Tv 1, 2), họ luôn luôn có trước mắt khuôn mẫu của các nhân đức kitô giáo, để họ cũng lãnh nhận nơi đôi tai của tâm hồn họ những giới luật của đời sống kitô hữu, và sau cùng để họ có trên đôi tay mình những hoạt động của Chúa Kitô để hoàn tất chúng.
Các thành viên của Cộng đoàn phải biết rằng cuốn sách này, bởi vị đắng của nó, làm cho bụng dạ của người ăn nó phải đau đớn (Kh 10, 9). Cũng thế, người nào thực sự cưu mang lời sự sống trong Tin Mừng và, (khi) được nuôi dưỡng bởi thân thân thể của Ngài, muốn tiến tới trong Chúa Kitô, thì sẽ chỉ có một phương tiện tăng trưởng độc nhất trong Ngài, đó là khổ chế thân xác và loại bỏ những ham muốn dục vọng của mình. Bởi thế, người ấy sẽ phải cố gắng từ bỏ xét đoán và ý muốn riêng gây trở ngại lớn lao cho đời sống và sự ngự trị của Chúa Kitô (Đời sống tâm linh ở chủng viện, XXI, tr. 179).
Cha Olier đã đề nghị với các thành viên của Cộng đoàn phát triển đời sống thiêng liêng của họ xung quanh bốn trục chính : đọc Lời Chúa, cử hành và chầu Thánh Thể, cầu nguyện và linh hướng. Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát chúng, bằng cách bắt đầu bởi việc đọc Lời Chúa, mà truyền thống Giáo hội gọi là « lectio divina ».
Bản văn ngắn được trích dẫn nhằm minh họa trên đây được rút ra từ tập Đời sống tâm linh ở chủng viện (Pietas Seminarii) hay là Chỉ nam thiêng liêng cho Chủng viện Xuân Bích (Directoire spirituel pour le Séminaire Saint-Sulpice). Mỗi đoạn được tập trung vào một bản văn Kinh Thánh, bản đầu tiên được rút ra từ Thánh vịnh thứ nhất, bản thứ hai từ sách Khải Huyền. Đó là một đặc tính thường xuyên nơi các bài viết của cha Olier : những trích dẫn Kinh Thánh nối tiếp  và xen lẫn nhau với một mật độ mà các đại bậc thầy thiêng liêng đã làm cho chúng ta quen với. Vị sáng lập Chủng viện đã là một người quen thuộc Kinh Thánh. Ngài đọc Kinh Thánh cách đều đặn mỗi ngày trong vòng một giờ ; điều đó giải thích việc những trích dẫn đến cách tự nhiên dưới ngòi bút của ngài.
Câu 2 của Thánh vịnh thứ nhất gợi lên hạnh phúc của người suy gẫm luật Chúa đêm ngày ; cha Olier mong muốn rằng các chủng sinh và những người hướng dẫn họ luôn mang nơi mình bản văn Tin Mừng để có thể suy gẫm nó thường xuyên và dễ dàng. Ngài đưa ra ba mục tiêu cho việc suy gẫm này :
Mục tiêu đầu tiên hệ tại có trước mắt khuôn mẫu của các nhân đức kitô giáo. Khuôn mẫu này không trừu tượng ; nó hệ tại chính Chúa Giêsu. Thành ngữ trước mắt ám chỉ đến những dải kinh mà người Do thái mang nơi trán của họ. Đối với cha Olier, có Chúa Giêsu trước mắt như là khuôn mẫu của các nhân đức kitô giáo có nghĩa là có thể chiêm ngắm Ngài trong mối tương quan của Ngài với Cha Ngài và trong mối tương quan của Ngài với tất cả những người mà họ sẽ gặp gỡ.
Sự chiêm ngắm này không ở bề ngoài bởi vì mục tiêu thứ hai là họcũng lãnh nhận nơi đôi tai của tâm hồn họ những giới luật của đời sống kitô hữu. Mục tiêu thứ hai này vận dụng việc lắng nghe, qua đó Tin Mừng xuống tận tâm hồn để thấm nhiễm nó. Nó cũng ám chỉ đến xác tín đức tin của người Do thái, mà đối với họ, Lời Chúa vừa ở trên môi miệng vừa ở trong tâm hồn. Ở đây, « những giới luật của đời sống kitô hữu » chắc chắn có nghĩa là hai giới răn mến Chúa và yêu tha nhân, được chính Chúa Kitô đem ra thực hành.
Cuối cùng, mục tiêu thứ ba hệ tại có trên đôi tay (ở đây cũng ám chỉ đến những dải kinh của người Do thái) những hoạt động của Chúa Kitô để hoàn tất chúng. Sau khi đã được thấm nhiễm sâu xa bởi tình yêu Thiên Chúa và anh chị em mà Chúa Kitô đang sống trong họ, cách nào đó, người kitô hữu có thể thấy kết quả từ đôi bàn tay của mình chính những hành vi của Chúa Kitô. Từ chiêm ngắm, chúng ta chuyển sang hành động, bởi vì chúng ta đã sáp nhập vào tâm khảm của mình thái độ sống của Chúa Giêsu. Chính Ngài từ nay hành động trong chúng ta.
Chúng ta có thể nhận thấy, việc suy gẫm Tin Mừng như cha Olier đề nghị khít với chính chuyển động cầu nguyện mà chúng ta sẽ thấy ở giai đoạn tiếp sau. Việc đọc Kinh Thánh, « lectio divina », không phải chỉ là một thao tác trí tuệ. Nó là một hành vi cầu nguyện.
Ở phần đầu của tập Hồi ký của ngài, ngài đã kể làm thế nào mà sự hiểu biết Kinh Thánh đã đến với ngài :
Tôi nhớ rằng từ lâu (tôi) đã rơi vào sự vô tri Kinh Thánh, điều mà tôi đã không thể quyết tâm học bởi áp lực chú giải hay nghiên cứu. Một ngày nọ, khi đang cầu nguyện với Chúa, một tia sáng thấm nhập vào tâm trí của tôi như đang đâm xuyên qua sự u tối của tôi và mở lòng mở trí (của tôi) ; từ đó tôi đã bắt đầu lắng nghe nó và tôi cảm thấy sự dễ dàng, mà từ đó luôn tăng lên và tiến bộ dần trong những điều khó hơn như thánh Phaolô và thánh Gioan (Hồi ký, I, tr. 27).
Và rất thường trong tập Hồi ký của mình, ngài nói rằng việc cầu nguyện đã làm cho ngài khám phá ý nghĩa của những lời mà cho đến lúc đó ngài vẫn còn chưa hiểu.
Người ta có thể tự hỏi tại sao ở đây cha Olier không nói về Kinh Thánh toàn bộ, nhưng chỉ nói về Tin Mừng. Nơi những đoạn khác của các bài viết của ngài, ngài không hạn chế và ngài gợi lên Kinh Thánh trong toàn bộ của nó. Chính Kinh Thánh mà ngài đã làm nổi bật nơi nhà nguyện của Chủng viện, bằng cách đặt nó đối diện với nhà tạm và bằng cách dám nói rằng nó giống như một bình thánhchứa đựng mình thánh của Chúa Kitô.
Những lời nói trong Kinh Thánh cũng chứa đựng và mạc khải những mầu nhiệm của Chúa Kitô. Nếu ở đây ngài nhấn mạnh đến Tin Mừng, chắc chắn đó là vì, đối với ngài, Tin Mừng ở trung tâm của Kinh Thánh, bởi vì nó tường thuật những lời nói và cử chỉ của Chúa Giêsu. Ở đây, cha Olier lệ thuộc vào thời đại của ngài, nghĩ cách dễ dàng rằng các tin mừng dẫn vào sự hiểu biết Chúa Giêsu các trực tiếp và chắc chắn hơn những trình thuật Tân Ước khác.
Thế mà chính sự hiểu biết về Chúa Giêsu mà cha Olier tìm kiếm, Giêsu, hình ảnh thu gọn của tình yêu (Hồi ký, I, tr. 314), được ẩn giấu trong Kinh Thánh, bao gồm cả nơi những nhân vật của Cựu Ước loan báo và tiên trưng Ngài, đặc biệt nơi vua Đavít mà danh xưng của ông trở lại rất thường xuyên nơi những trang hồi ký của ngài.
Chúng ta hãy có vài lời kết luận với đoạn văn thứ hai của bản văn được đề nghị. Khi trích sách Khải Huyền, cha Olier cho thấy rằng, khi chúng ta ăn sách Kinh Thánh để tiêu hóa nó, nó làm cho chúng ta đau đớn, chúng ta có thể nói theo cách thông thường : thật khó mà tiêu hóa, bởi vì nó đến mâu thuẫn với con người  tội lỗi ở trong chúng ta và làm cho nó chết đi, đặc biệt lòng tự ái đối lập với sự ngự trị của Thánh Thần trong chúng ta.
Chúng ta lưu ý những từ ngữ được cha Olier dùng ở đây : người nào thực sự cưu mang lời sự sống trong Tin Mừng, tức là người nào, qua đức tin, đã để cho Tin Mừng nảy sinh nơi mình, hình thành nơi mình, mang lấy hình dáng nơi mình ; và (khi) được nuôi dưỡng bởi thân thân thể của Ngài, muốn tiến tới trong Chúa Kitô : Tin Mừng là lương thực, là chính thân xác của Chúa Kitô.
Ngài mang hình dáng nơi chúng ta khi chúng ta đón tiếp Ngài ; như thế chúng ta có thể được Ngài nuôi dưỡng để thực hiện cuộc chiến đấu thiêng liêng, vì chỉ có một phương tiện tăng trưởng độc nhấttrong Chúa Kitô, đó là khổ chế thân xác và loại bỏ những ham muốn dục vọng của mình ; những lối diễn đạt mà ngày nay  làm cho chúng ta lúng túng, nhưng chỉ muốn nói rằng phải đặt những ao ước của chúng ta ở tầm mức ao ước của Chúa Kitô và vì thế, tìm cách loại bỏ những gì, trong con người chúng ta, đang để mặc cho chúng ta dưới ảnh hưởng của những ao ước quá nhân loại.

Ngày thứ mười hai
CÙNG MỘT HY TẾ ĐƯỢC TIẾP DIỄN

Cần phải biết rằng cùng chính hy lễ đó được hiến dâng, cùng chính nội tâm, cùng chính những tâm tình, cùng chính Chúa Giêsu Kitô hiện diện ở hy tế thánh nơi bàn thờ cũng như ở trên thập giá ; và như thế, chỉ là cùng một hy tế được tiếp diễn và sẽ tiếp tục cho đến tận thế, cho dù dưới vẻ bề ngoài rất khác nhau, vì trên thập giá, Chúa đổ máu ra, rơi lệ, kêu lớn tiếng, còn trên bàn thờ Ngài dường như thinh lặng và không có dấu hiệu cảm giác của bản tính nhân loại của Ngài, đến độ những gì Ngài đã nói với các tông đồ của Ngài : « Các con hãy làm điều này mà nhớ đến Thầy », đã chỉ là để báo cho họ biết rằng khi hiến dâng làm hy tế đích thực ở bàn thờ con người của Ngài, được che dấu dưới bức màn của bánh, họ nhớ đến đức ái mà Ngài tỏ lộ cách hữu hình nơi đồi Canvê và trên thập giá, và sự thờ phượng đối với Cha mà Ngài đã thể hiện trước mặt mọi người. Vì thế, hãy biết rằng nơi Chúa chúng ta cũng như nơi các kitô hữu, những chi thể của Ngài, cái chính yếu không phải là cái bề ngoài của những việc làm hữu hình, nhưng  những gì cần phải được cân nhắc nhất là hoạt động thầm kín và nội tâm của Thánh Thần, Đấng là tác giả và là nguyên lý của mọi việc làm tốt lành, và đó là những gì mà Thiên Chúa yêu thích hơn (Giáo lý Kitô giáo cho đời sống nội tâm, phần thứ hai, bài 3, tr. 61).
Bản văn này hướng đến chiều kích hy tế của Thánh Thể. Nó cho thấy rằng điều thiết yếu nơi hy tế, đó là khía cạnh bên trong của chuyển động trao hiến đang thúc đẩy người tự hiến. Cha Olier tóm tắt nó trong hai từ : đức ái và đức thờ phượng (religion). Đó là cùng một đức ái và cùng một nhân đức thờ  phượng mà ngày xưa Chúa Kitô đã diễn tả trên thập giá và hôm nay ngài đang diễn tả trong Thánh Thể.
Trước tiên, đức ái : điều đáng nói đến, đó là tình yêu đối với Cha và đối với nhân loại qua đó Chúa Giêsu đã sống những đau khổ của cuộc thương khó và thập giá của người. Chắc chắn người ta có lý cảm thấy xúc động bởi những đau khổ của Chúa Giêsu, bởi toàn thể những sỉ nhục và đau đớn mà Ngài đã chịu. Nhưng những gì cứu vớt thế gian, đó là tình yêu mà Ngài tha thiết, sự tha thứ mà Ngài đã thể hiện đối với các lý hình ngay giữa tấn kịnh mà Ngài đã sống. Cha Olier nói với chúng ta, điều quan trọng nhất là ở nội tâm của chính Ngài. Dưới những bức màn của bí tích, cũng chính tình yêu này mà Ngài đang biểu lộ cùng một cường độ. Cùng một đức ái của Chúa Kitô được trao hiến cho chúng ta ở đó.
Tiếp đến, đức thờ phượng: người ta hầu như chỉ còn sử dụng từ ngữ này để nói về các tôn giáo khác nhau. Vào thế kỷ XVII, nó đặc biệt được sử dụng theo nghĩa nhân đức thờ phượng, nhân đức qua đó con người diễn tả mối tương quan của mình với Thiên Chúa, nhân đức được hình thành vừa từ sự tôn thờ vừa từ tình yêu. Cũng ở đây, người ta hiểu rằng, điều thiết yếu là chiều kích bên trong của mối tương quan này. Chính nơi mầu nhiệm thập giá mà Chúa Giêsu diễn tả cách hoàn hảo nhất sự thờ phượng của Ngài đối với Cha, bởi vì chính trên thập giá mà Ngài trở nên của lễ hoàn hảo. Ngày nay, trong Thánh Thể, chúng ta bước vào trong mối tương quan này, đến lượt chúng ta, chúng ta trở nên của lễ bằng cách giải thoát chúng ta khỏi tất cả những gì ngăn cản việc trao hiến chính mình.
Khi nói về Thánh Thể như hy tế, theo thói quen của ngài, cha Olier đã kêu gọi tính nội tâm của sự trao hiến. Trước hết, đối với ngài, hy tế là một tâm hồn nhân loại được trao hiến, bằng cách thử, để tự hiến cách tốt nhất,  phó mình cho Chúa Thánh Thần để được giải thoát khỏi tất cả những gì cầm giữ mình lại để vươn lên với Cha.
Chúa Kitô đã hoàn toàn tự do, đã sống chuyển động tròn đầy, không hạn chế này. Ngài đã là của lễ trong chính hữu thể của Ngài, vì Ngài đã hoàn toàn mở ra cho Cha, và của lễ này được hoàn tất trên thập giá. Bây giờ Ngài dẫn đưa chúng ta vào trong đà hướng về Cha của Ngài mà Thánh Thể làm tồn  tại giữa chúng ta và cho chúng ta.
Một khía cạnh khác của Thánh Thể là sự hiệp thông. Nó giữ một chỗ quan trọng trong tư tưởng và trong đời sống thiêng liêng của cha Olier. Vì nếu sự hiệp thông với Chúa Kitô và với những tâm tình của Ngài nhờ Thánh Thần cư ngụ nơi chúng ta, là mục tiêu tối hậu của đời sống thiêng liêng, thì sự hiệp thông bí tích là phương tiện ưu việt của nó :
Hãy biết những lời tốt đẹp này của Chúa chúng ta, mang một chỉ dẫn lớn lao với nó : « Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ ở lại trong Ta và Ta ở trong người ấy » (Ga 6, 57). Đó là những lời có sức an ủi lớn lao đối với toàn thể Giáo Hội và đối với mỗi người rước lễ (Giáo lý Kitô giáo cho đời sống nội tâm, phần thứ hai, bài 4, tr. 63).
Cha Olier ngạc nhiên thán phục bởi sự trao hiến rạng ngời mà Chúa Kitô biến mình trong bí tích đến nỗi ngài nói về người rước lễ rằng người ấy được Chúa Kitô coi như là hôn thê của Ngài ; điều này dẫn đến một kết quả kép : Chúa Kitô bước vào trong ước muốn của vị hôn thê lãnh nhận Ngài, trong những ý hướng mà vị hôn thê không cần phải do dự bày tỏ để Ngài chấp thuận chúng ; tiếp đến, vị hôn thê đồng thời cũng bước vào trong những tâm tình của Chúa Kitô, hôn phu của mình, những tâm tình mà, đến lượt mình, vị hôn thê phải làm thành của mình.
Bởi thế, chính bằng thuật ngữ thần bí hôn ước mượn trong Thánh Kinh mà cha Olier giải thích câu « người ấy ở lại trong Ta và Ta ở trong người ấy » của thánh Gioan. Ngài thêm vào cùng một cách nói :
Đó là điểm hoàn hảo của hôn phối của Chúa chúng ta với linh hồn, nơi Ngài hoàn toàn nên một với nó, và là nơi Ngài làm cho nó nên một với Ngài, cũng như Ngài làm một với Cha Ngài và Cha Ngài làm một với Ngài.
Nhưng sự hiệp thông không dừng lại ở mối tương quan giữa Chúa Kitô và người rước lễ. Nó cũng hiệp nhất tất cả các kitô hữu ; ngài viết cho một trong các con linh hướng của ngài, nữ tu Vauldray :Hỡi con, trên trời chúng ta hết thảy sẽ là một nhờ Chúa Kitô và hết thảy là một trong Ngài, những gì được khởi sự trên trần gian nhờ việc hiệp lễ thánh (Thư 92). Và đòi hỏi của đức ái vọt lên từ bí tích Thánh Thể :
Liên quan đến đức ái đối với tha nhân, cộng đoàn phải mong đợi chính những hiệu quả của việc tham dự vào bàn tiệc thánh và của việc hiệp thông Thánh Thể, nơi Chúa Kitô hiện diện dưới hình bánh, biểu tượng của đức ái, vì nó được làm nên từ nhiều hạt lúa mì…Chớ gì họ không bao giờ sống trong sự bất hòa (Rm 15, 6), nhưng trong sự hiền hòa và trong Thánh Thần (Rm 15, 16), có cùng những tâm tình, và một lòng một trí, một môi miệng, họ tạ ơn Thiên Chúa là Cha của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta (Đời sống tâm linh ở Chủng viện, VI, tr. 167).
Khía cạnh thứ ba của bí tích Thánh Thể mà cha Olier thường khơi lên là sự hiện diện thực sự. Nơi ngài, việc tôn sùng Thánh Thể là một thực hành thiêng liêng mà ngài tha thiết nhiều. Nhưng ngài đã không tách rời sự hiện diện khỏi những chiều kích khác. Được che giấu dưới dáng bề ngoài của tấm bánh, Chúa Kitô luôn luôn ở trong trạng thái lễ dâng chính mình cho Cha của Ngài vì ơn cứu độ nhân loại ; bởi thế, sự hiện diện thực sự không phải là tĩnh ; hy tế được tiếp tục trong nó.
Chúa Kitô cũng  ở trong trạng thái cầu bầu bên cạnh Cha Ngài, như thư gởi tín hữu Rôma (8, 34) và thư gởi tín hữu Do thái (7, 25) nhấn mạnh ; khi tôn thờ Ngài, chúng ta cùng với Ngài bước vào trong sự cầu bầu của Ngài. Sau cùng, hiện diện trongThánh Thể, Chúa Kitô, bằng tất cả hữu thể của Ngài, muốn tự hiến làm lương thực cho những ai tôn thờ Ngài : Ngài khát khao nuôi dưỡng và làm cho Giáo Hội no thỏa bởi lương thực này. Bởi thế, đối với cha Olier, trong sự hiện diện Thánh Thể, Chúa Kitô tỏ hiện như là một hữu thể ao ước, vừa quay hướng đến Cha và đến với nhân loại.

Ngày thứ mười ba
TRONG THÁNH THẦN NÀY CHÚNG TA TIN TƯỞNG CẦU NGUYỆN

Hỏi : Làm thế nào chúng ta có thể tin tưởng cầu nguyện ?
Đáp : Thiên Chúa bù đắp vào đó ; và tôi sẽ cho anh chị em biết bí mật của lòng tin tưởng, mà rất vinh quang cho Thiên Chúa và rất hữu ích cho Giáo Hội. Sau khi chúng ta đã đặt mình trong tâm tình khiêm tốn một khoảng thời gian mà tôi đã nói với anh chị em, thì cần phải giữ tĩnh lặng trong Thánh Thần của Chúa Giêsu Kitô, đang hiện diện trong tâm hồn của tất cả con cái của Giáo Hội để nâng lời cầu nguyện của họ lên, như thánh Phaolô nói (Rm 8, 15) : « Anh em đã lãnh nhận Thần Khí nghĩa tử, Thần Khí làm con mà chúng ta kêu lên Abba, Cha ơi. » Nghĩa là trong Thánh Thần này, chúng ta tin tưởng cầu nguyện : những gì được tuyên bố và qua danh xưng Cha được lập lại hai lần, Abba, Cha ơi, và qua tiếng kêu mà chúng ta tự do thốt lên với Ngài những lời cầu nguyện của chúng ta, chúng ta kêu lên ; vì điều đó diễn tả sự vững chắc  của lòng tin tưởng và sức mạnh của lòng nhiệt thành qua đó chúng ta cầu xin với Thiên Chúa tất cả những nhu cầu của chúng ta vì vinh quang của Ngài ; tôi sẽ còn thêm vào những gì mà thánh Phaolô nói ở một nơi khác : « Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho chúng ta với những tiếng rên xiết khôn tả (Rm 8, 26) (Giáo lý Kitô giáo cho đời sống nội tâm, phần thứ hai, bài 1, tr.55).
Thánh tông đồ Phaolô nói rằng « chúng ta không biết cầu nguyện như đáng phải ». Chỉ duy Thánh Thần, Đấng đi « thẳng đến Thiên Chúa », mới có thể bổ khuyết cho sự vô tri và sự vụng về của chúng ta. Vì thế, chính Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta ; đó là nguồn của sự tin tưởng của chúng ta ; nếu lời cầu nguyện của chúng ta là công trình của chúng ta, thì đâu sẽ là sức mạnh của nó nơi tâm hồn của Thiên Chúa ? Nhưng nó là lời cầu nguyện của Thánh Thần của Chúa Giêsu, và Thánh Thần này là một Thánh Thần làm cho chúng ta thành nghĩa tử. Như thế có gì mà chúng ta không thể đạt được ?
Như thánh Phaolô còn nói, những gì mà Thánh Thần ao ước nơi chúng ta, đó là sự sinh ra con người mới mà Thánh Thần cầu xin với những tiếng rên xiết. Bởi thế, cha Olier khuyên rằng bắt đầu việc cầu nguyện, trước tiên chúng ta đặt mình trong sự khiêm tốn. Quả thế, chúng ta tự mãn, và duy chỉ sự khiêm tốn có thể cho phép chúng ta nhường chỗ cho Thánh Thần. Sau đó, có thể giữ tĩnh lặng trong Thánh Thần của Chúa Giêsu-Kitô. Sự tĩnh lặng của tất cả hữu thể, của tất cả những gì mà chúng ta có tốt nhất trong chúng ta để mở nó ra cho Thánh Thần.
Xác tín rằng việc cầu nguyện là phục tùng Thánh Thần, nên cha Olier chỉ xét đến sự trợ giúp của một phương pháp cầu nguyện khi Thánh Thần không mở ra con đường cụ thể cho những người cầu nguyện : Phương pháp mà Chúa chúng ta dạy cho các môn đệ của Ngài chỉ được cung cấp nếu thiếu sự chăm sóc cụ thể hơn của Thánh Thần, Đấng hướng dẫn các con cái Người trong việc cầu nguyện (Dẫn vào đời sống và các nhân đức kitô giáo, chương 4, tr.22).
Điều đó muốn nói rằng Thánh Thần có thể hướng dẫn chúng ta trong sự chiêm ngắm của chúng ta và giữ chúng ta trong việc cầu nguyện bằng chỉ hành động của Người, mà chúng ta không cần sử dụng những phương thế đã được trải nghiệm là những phương pháp cầu nguyện. Thánh Thần là tự do và dẫn đưa chúng ta trong sự tự do của Người. Lối diễn được ưa thích của cha Olier : buông mình cho Chúa Thánh Thần, ở đây mang một ý nghĩa nổi bật hoàn toàn đặc thù.
Thế nhưng, chúng ta không được tự phụ. Sự tự do không phải là điều vớ vẩn ; có khi chúng ta bị rơi vào cảnh bơ vơ và chúng ta không biết đường nào phải giữ. Cha Olier nói, trong trường hợp này, thật thích hợp nếu chúng ta được kìm lại và được điều chỉnh bởi khuôn mẫu thánh thiện nào đó. Bởi thế, ngài đề nghị một phương pháp, như nhiều bậc thầy tu đức đã làm.
Thực ra, đó không phải là phương pháp của ngài, vì ngài nói tìm thấy nó trong Kinh Thánh : phương pháp này phù hợp với chính kế đồ của Thiên Chúa Cha, ngày xưa được diễn tả trong Lề luật. Lập luận sẽ làm cho độc giả ngày nay sửng sốt : khuôn mẫu (phương pháp) hệ tại có Chúa ở trước mắt, trong tâm hồn và trên đôi tay. Chính như thế mà theo lệnh của Thiên Chúa, người Do thái đã phải mang Lề luật.
Cha Olier nối kết hai câu của sách Đệ Nhị Luật, các câu 6 và 8 của chương 6 : những lời này sẽ được ghi khắc trong tâm hồn ngươi, và ngươi sẽ buộc chúng ở tay ngươi làm dấu và trên trán ngươi làm phù hiệu. câu 8 rõ ráng ám chỉ đến những dải kinh mà người Do thái mang trên trán : trước mắt, và ở cổ tay : trên đôi tay. Nhưng điều quan trọng nhất là câu 6 yêu cầu rằng những lời này cần được ghi khắc trong tâm hồn.
Như thế chuyển động cầu nguyện theo phương pháp của cha Olier sắp được triển khai : Chúa chúng ta ở trước mắt sẽ là thì đầu tiên, thì của cái nhìn vào Chúa Giêsu hay là việc chiêm ngắm ; Chúa chúng ta trong tâm hồn sẽ là thì thứ hai, thời điểm trung tâm, thì của sự hiệp thông ; Chúa chúng ta ở trên đôi tay sẽ là thì thứ ba, thì của sự cộng tác.
Cả ba thì được khai triển không phải như là những khoảnh khắc liên tiếp  tách rời, nhưng đúng hơn như những thái độ đan xích lẫn nhau. Thì thứ nhất :
Chúng ta hãy cung kính nhìn ngắm Chúa Giêsu…Hãy đặt mình tôn sùng và tôn kính trước một điều thần linh và thánh thiện như thế ; và sau khi tâm hồn của chúng ta tuôn tràn thành tình yêu, lời ca ngợi và những nghĩa vụ khác, chúng ta hãy ở  yên thinh lặng một thời gian trước nhan Ngài, trong chính những tâm tình thờ phượng tận sâu thẳm tâm hồn chúng ta.
Nó hệ tại một cái nhìn, nhưng là một cái nhìn chiêm ngắm tiếp đón Chúa Giêsu cách cung kính, và hướng đến sự tôn thờ. Ở đây, cái nhìn không còn ở bên ngoài ; nó được nội tâm hóa bằng cách gắn bó.
Cái nhìn vào điều gì ? cha Olier nói với chúng ta : vào Chúa Giêsu ; nhưng với biết bao sự đa dạng có thể, điều đó có thể là một cảnh Tin Mừng, một dụ ngôn, một nhân đức, một thái độ của Chúa Giêsu, điều đó có thể là Chúa Giêsu trên thập giá hay phục sinh. Điều đó không quan trọng. Tất cả sẽ phụ thuộc vào những gì mà Thánh Thần gợi lên hay hoàn toàn đơn giản vào phụng vụ trong ngày. Điều cốt yếu sẽ là bước vào trong sự chiêm ngắm bằng cách thử để chính Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy Ngài là ai, bằng cách đặt mình trước nhan Ngài trong sự cung kính và tình yêu.
Thì thứ hai này sinh từ thì thứ nhất, vì Chúa mà chúng ta chiêm ngắm càng ngày càng lôi kéo chúng ta đến với Ngài và ban cho chúng ta Thánh Thần, Đấng kết hiệp chúng ta với Ngài. Như thế, thái độ của người cầu nguyện đặc biệt là thái độ ao ước ; nó hệ tại việc cầu xin Thánh Thần xâm chiếm chúng ta để làm cho chúng ta đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Nếu Thiên Chúa ban Thánh Thần cho chúng ta, thì chúng ta có thể cảm nghiệm được lời thánh Phaolô : « không còn là tôi sống nữa, nhưng Chúa Kitô sống trong tôi ».
Chúng ta được Thánh Thần đặt vào trong sự hiệp thông sâu xa với Chúa Kitô. Cha Olier thậm chí nói về việc để chúng ta được thấm ướt bên trong bởi dầu Thánh Thần, như thế cho thấy Thánh Thần có khả năng thấm nhập mọi thớ thịt của con người chúng ta để làm cho chúng ta giống với Chúa Kitô.
Cha Olier gọi thì thứ ba của việc cầu nguyện là cộng tác :
Điểm thứ ba của việc cầu nguyện là mang Chúa chúng ta trên đôi tay, nghĩa là muốn rằng thánh ý của Ngài được hoàn tất trong chúng ta, những chi thể của Ngài,mà phải phục tùng Thủ Lãnh của chúng ta, và không cần có chuyển động nào hơn là chuyển động mà Chúa Giêsu-Kitô, là sự sống và là tất cả của chúng ta, ban cho chúng ta, Đấng đổ đầy lòng chúng ta Thánh Thần của Ngài, nhân đức và sức mạnh của Ngài, Đấng phải thực hiện trong chúng ta tất cả những gì Ngài mong ước.
Ở đây nữa, cách nào đó, thì thứ ba này sinh ra từ thì thứ hai ; quả thật, nếu chúng ta hiệp thông với Ngài và nếu Ngài sống trong chúng ta, thì cách nào đó, những hành vi của chúng ta là những hành vi của Ngài ; chúng ta ao ước sâu xa bắt chước Ngài và thực thi thánh ý Ngài. Như thế, phải chăng chúng ta sẽ có những quyết tâm ? Có lẽ, nhưng chúng sẽ không giả tạo, chúng sẽ được Thánh Thần gợi ý cho chúng ta.

Ngày thứ mười bốn
THÁNH THẦN, VỊ HƯỚNG DẪN NỘI TÂM ĐÍCH THỰC CỦA CHÚNG TA

Theo cách thế của những gì mà Kinh Thánh khẳng định về các Tông đồ, có thể nói là, vị linh hướng phải có khả năng thực hành mọi ngôn ngữ, có khả năng hiểu chúng và nói chúng. Không phải là những ngôn ngữ tự nhiên như các Tông đồ, nhưng là những ngôn ngữ thiêng liêng. Nói cách khác, ngài phải biết những cách thế khác nhau mà Thiên Chúa hướng dẫn các linh hồn : có khả năng hiểu mỗi một con linh hướng của mình khi người này sẽ nói với ngài về tình trạng nội tâm của mình và có khả năng trả lời cho người con ấy trong chính ngôn ngữ của Thiên Chúa, nhờ thế, ngài sẽ có thể trả lời thỏa mãn cho mỗi người nơi tất cả những nghi ngờ và những khó khăn mà người ấy giãi bày cho ngài.
Như thế, vị linh hướng sẽ biết thừa nhận sự cao cả của hành động của Thiên Chúa nơi những biểu lộ khác nhau của Người. Quả thế, Thiên Chúa tỏ ra đáng khâm phục qua những cách thế khác nhau mà Người hướng dẫn các tâm hồn, những tâm hồn này bằng con đường nọ, những tâm hồn khác bằng con đường kia. Đến độ – như kinh nghiệm cho thấy – hầu như không có hai tâm hồn theo cùng một con đường : một sự đa dạng như thế chứng tỏ sự cao cả vô tận của Thiên Chúa. Vị linh hướng phải biết tất cả điều ấy. Giống với một người vạn năng, ngài tạ ơn Chúa cùng với mọi người và cùng với họ, ngài tán dương Thiên Chúa nơi những bước đường này, hoàn toàn khác nhau, là những bước đường của họ…Như thế, có thể nói về các vị linh hướng những gì mà Kinh Thánh khẳng định về các Tông đồ : « Họ nói lên những kỳ công của Thiên Chúa » (Cv 2, 11) (Avis aux directeurs spirituels (AD), tr. 37).
Đó là một bản văn hẳn sẽ làm cho những ai mong muốn làm linh hướng phải thận trọng. Quả thế, ai có thể cho là biết được nhiều ngôn ngữ trong lãnh vực này ? Và ao ước này là rất tự phụ khi người nuôi dưỡng nó đã không được chuẩn bị bằng một sự áp dụng lâu dài và liên lỉ với Thiên Chúa (A.D., tr.34), bằng một thói quen cầu nguyện vững bền, bằng sự trải qua những thử thách thiêng liêng mà những ai tìm kiếm Thiên Chúa cảm thấy đối diện, bằng việc thực hành sự phân định đối với chính mình.
Sự hướng dẫn (hay sự đồng hành, như chúng ta nói ngày nay) thiêng liêng là một nghệ thuật chứ không phải là một kiến thức. Thậm chí đó là nghệ thuật của các nghệ thuật, như các nhà linh hướng lớn của thế kỷ XVII nói, lấy lại một công thức danh tiếng của thánh Grêgôriô Cả. Nó chỉ được học biết bằng kinh nghiệm. Cha Olier nhấn mạnh rằng đọc những sách vở liên quan đến vấn đề này mà thôi thì không đủ :
Nếu sự hiểu biết của chúng ta là hoàn toàn sách vở, thì nó có nguy cơ biến chúng ta thành những con vẹt : chúng lập lại những gì chúng đã nghe mà không hiểu ! Nếu lời nói của chúng ta được xây dựng trên sự thực hành và kinh nghiệm thì vấn đề hoàn toàn khác (A.D., tr. 36).
Chính ngài đã thủ đắc kinh nghiệm mà ngài nói đến nhờ việc ngài được cha De Condren linh hướng. Ở ngày thứ ba, chúng ta đã trích dẫn bản văn quyết đinh này mà ngài kể lại làm thế nào ngài đã khám phá hoạt động của Thánh Thần trong ngài. Ngài đã nhận xét rằng vị linh hướng thứ hai của ngài (cha Condren) đã đồng hành với ngài xa hơn vị trước là thánh Vincent de Paul. Một ngày kia, cha Condren đã để cho ngài tĩnh tâm một mình. Và sự tự do này đã cho phép ngài nhận thấy những chuyển động nội tâm đã thúc đẩy ngài và những tiếng gọi mà Thánh Thần nói với ngài.
Nơi bản văn và chúng ta đang suy niệm, vị linh hướng xuất hiện như là chứng nhân đầy ngạc nhiên thán phục về công trình của Thiên Chúa nơi những con người mà ngài đồng hành, một sự ngạc nhiên thán phục được thể hiện thành lời tạ ơn. Dĩ nhiên, người ta chỉ có thể thấy Thiên Chúa đang hành động nhờ con mắt sắc bén của đức tin, trong sự lắng nghe chăm chú kinh nghiệm của người khác mà mình thử trình bày và nơi mà Lời Thiên Chúa mở lối khai thông.
Sự ngạc nhiên thán phục của vị linh hướng được củng cố bởi sự kiện đa dạng của công trình của Thiên Chúa mà ngài nhận ra nơi những con người khác nhau mà ngài đồng hành. Vì không có người nào giống người nào ; và trong sự đa dạng này, cha Olier nhìn thấy dấu vết của sự cao cả vô tận của Thiên Chúa.
Đó là sự phong phú vô biên của Thiên Chúa được biểu lộ trong những con đường đa dạng mà Thiên Chúa dùng để tự mạc khải cho con người và mời gọi họ làm chứng cho Tin Mừng. Đó là đặc điểm của Thánh Thần được sai đến vào lễ Hiện Xuống để hiểu mọi ngôn ngữ, để bước vào trong kinh nghiệm của mỗi người. Bởi thế, vị linh hướng, nếu ngài cần có kinh nghiệm về con đường riêng của mình, sẽ không áp đặt nó cho những người khác :
Chúng ta cần phải hướng dẫn họ trong ánh sáng của Thiên Chúa chứ không phải trong ánh sáng của chúng ta. Chúng ta phải triệt hạ tinh thần riêng của chúng ta để được tinh thần của Thiên Chúa đổ đầy. Cần phải ở trong đôi bàn tay của Chúa chúng ta để bước vào trong sự dẫn dắt của ngài nơi các tâm hồn và không muốn hướng dẫn họ bằng sự dẫn dắt riêng của chúng ta (A.D., tr. 144).
Chính Thánh Thần là vị linh hướng nội tâm đích thực của chúng ta, như Người đã là linh hướng nội tâm của Chúa Giêsu-Kitô Chúa chúng ta (Hồi ký, I, tr.145) ; và vị linh hướng tốt là người giúp đỡ những ai mà họ đồng hành sống dưới vòng ảnh hưởng của Thánh Thần.
Trong thừa tác vụ của mình, vị linh hướng sẽ phải theo cách  tự nhiên một số căng thẳng phản ánh những căng thẳng của chính đời sống thiêng liêng. Trong số đó, mối tương quan tế nhị giữa tính cương nghị (fermeté) và lòng kiên nhẫn.
Về tính cương nghị, trước tiên cần phải ghi khắc sự xác định rõ ràng mục đích của việc linh hướng : tiến đến sự thánh thiện. Nhiều người không xác tín ngay về điều đó :
Để đưa các tâm hồn đến sự hoàn thiện, bởi thế cần phải làm cho họ xác tín trước tiên về bổn phận tìm kiếm sự hoàn thiện mà họ cần có : vì thiếu sự xác tín này, nên nhiều tín hữu không lưu tâm đến, mà nếu họ đã thủ đắc được, thì hẳn họ sẽ hướng đến đó bằng tất cả tâm hồn của họ (A.D., tr. 48).
Phần vị linh hướng là chỉ ra mục tiêu và duy trì hướng đi. Vì thế, ngài sẽ không quên làm vang vọng tiếng gọi nên thánh và báo hiệu cho những người mà ngài đồng hành những trở ngại được dựng nên trước mặt họ :
Đơn giản, nhưng rõ ràng và âu yếm (tendre), cần phải cho họ thấy những nhu cầu và những cấp thiết của họ, giúp họ ý thức về những lỗi lầm của mình, dù họ có phải nhận thấy chúng cay đắng và khó chịu.
Cha Olier nói rõ : rõ ràng và âu yếm. Sự kín cẩn trong lãnh vực này là một quy tắc vàng.
Về phía vị linh hướng, sự hướng dẫn đòi hỏi sự can đảm, và về phía người được linh hướng, nó đòi hỏi sự khiêm tốn để chấp nhận thực thi chân lý. Thỉnh thoảng, cha Olier nhận xét rằng chúng ta không dám nói với họ cách chân thành những sự thật của họ vì sợ làm cho họ khó chịu bực mình (A.D., tr. 46). Nhưng hành động như thế không phát xuất từ đức ái đối với họ nhưng đúng hơn là thỏa mãn lòng tự ái của chúng ta : chúng ta sợ mất đi sự quý trọng của họ và làm cho họ rời xa chúng ta.
Nhưng chúng ta biết rằng sự thánh thiện không luôn luôn tiến triển một sớm một chiều. Mỗi ngày chúng ta có kinh nghiệm cay đắng về điều đó. Bởi thế, vị linh hướng phải có lòng kiên nhẫn và không tìm cách đi trước công việc của Thiên Chúa :
Có  lúc chúng ta muốn thấy các tâm hồn hoàn hảo trong vòng một ngày : rất thường, đó là hậu quả của khuyết điểm của chúng ta hơn là sự hăng hái của chúng ta, cần được tiết chế. Thiên Chúa cho toàn thời gian để đạt tới sự hoàn thiện. Người không thực hiện nó trong nháy mắt…vì thế, cần phải theo sau Thánh Thần của Thiên Chúa chứ không phải là đi trước Người (A.D., tr 112).
Do đó, sự vô tư là một trong những phẩm chất quan trọng của vị linh hướng :
Chúng ta phải là như những con kênh một chút, chỉ dùng cho dòng chảy của nước đang vọt ra từ mạch suối để chảy đi tan biến trong những dòng sông…Tất cả những gì mà các con kênh  có thể làm tốt nhất, đó là trả lại cho nước ở tình trạng mà chúng lãnh nhận những dòng nước này, không trộn lẫn gì khác vào đó(A.D., tr. 144).

Ngày thứ mười lăm
PHẢI BƯỚC VÀO ĐỜI SỐNG DÂNG HIẾN BẰNG CÁNH CỬA ƠN GỌI

« Lúa đã chín rồi, « đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái » (Ga 4, 35) ; các dân tộc đã được chuẩn bị cho điều phúc lành ; các Giám mục đã có liềm gặt ; các ngài tìm kiếm những người thợ trợ giúp ; các ngài kêu gọi khắp nơi ; mỗi người hãy kêu lên với các ngài và rên siết với chủ mùa gặt, để ngài sai thợ đi làm việc : « Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về » (Mt 9, 38). Thế nhưng, mọi thứ vẫn còn trong ưu tư khắc khoải ; các Giám mục đau đớn nhìn thấy trước mắt mình những hoa màu tiêu tan mà các ngài không thể gặt hái một mình và đành bỏ lại một mùa gặt tốt đẹp như thế mà các ngài không thể ôm lấy mà không có sự trợ giúp của các linh mục : « Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít » (Mt 9, 37).
Nếu đôi khi có những người thiện chí…mà Chúa thương gởi cho các Giám mục, sau khi đã lắng nghe các ngài trong lời cầu nguyện…, thì rất thường những người này đều còn mới mẻ so với công việc của họ và ít có khả năng nơi thừa tác vụ thánh của mình đến nỗi, nếu họ không có một thời gian đáng kể để được hướng dẫn và đào tạo cách thong thả đối với tất cả chức năng của họ, ở một môi trường đạo đức nào đó, để múc lấy tinh thần và đức hạnh cần thiết cho mình, thì họ vẫn không đủ tư cách trong suốt đời phụng sự Chúa và Giáo Hội của họ » ( Trích trong « Kế hoạch thiết lập một chủng viện nơi một địa phận », khảo luận I, phần thứ nhất).
Cha Olier đã soạn thảo một « Kế hoạch thiết lập một chủng viện nơi một địa phận » mà ngài trình bày cho Hội Đồng Giáo Sĩ Pháp vào năm 1651 để đề nghị với các Giám mục công việc phục vụ của Hội Linh Mục Xuân Bích vừa được thành lập. Bức tranh mà ngài mô tả về tình trạng của hàng giáo sĩ của nước Pháp thời bấy giờ rất là u tối. Thực tế là phẩm chất của các linh mục chưa được tốt. Các ơn gọi thường được quyết định bởi việc tham vọng hay lợi ích tài chính của các gia đình hơn là bởi việc phụng sự Giáo Hội vô vị lợi.
Trong một bài giảng vẫn còn nổi tiếng được giảng trong nhà thờ Thánh Xuân Bích lúc khởi đầu thửa tác vụ, cha Olier đã tuyên bố : phải bước vào bằng cánh cửa ơn gọi. Điều đó muốn nói rằng ơn gọi phải là lời đáp trả cho tiếng gọi nội tâm của Thánh Thần. Vì thế, cha Olier đã mời gọi các ứng viên linh mục xem xét sự tinh tuyền của các động cơ tu trì của họ.
Quả thế, thực hành thừa tác vụ giả thiết một sự hiệp thông với Chúa Kitô Mục Tử, và do đó, trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài bằng cả con người, tư tưởng, lời nói và hành động. Cha Olier biết rõ những gì ngài đang nói. Chính ngài cũng như những người khác, đã khởi đầu bằng việc hướng mình đến một sự nghiệp giáo sĩ trần tục không có lòng sốt sắng truyền giáo gì.
Đối với các linh mục tương lai đã vào chủng viện, thì mối bận tâm đầu tiên của ngài là giúp đỡ họ trở nên những Kitô hữu tốt, những con người nhạy cảm trước hoạt động của Thánh Thần nơi họ và nơi những người khác, những con người cầu nguyện, được thấm nhiễm bởi Lời và sống nhờ Thánh Thể. Đối với ngài, đó là điều kiện quan trọng để họ có thể trao hiến hoàn toàn cho thừa tác vụ của mình và do đó trở nên những mục tử đích thực theo hình ảnh của Chúa Kitô Mục Tử.
Cha Olier mong muốn rằng các linh mục thực sự hiến thân phục vụ những ai được giao phó cho họ. Chính cha đã là mẫu gương về điều đó ở giáo xứ ngoại thành này, nơi mà dân chúng tứ xứ còn chưa biểu lộ được những dấu chỉ của một đời sống Kitô hữu có giáo dục và là nơi mà các linh mục phải tiếp xúc với những người còn rất nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần.
Mẹ ngài, người đã không chấp nhận định hướng của ngài và đã xem việc ngài làm cha sở giáo xứ Thánh Xuân Bích là một sự xuống chức, đã không thể chịu đựng được nhiều việc, nhất là việc bị ngài quấy rầy vào buổi đêm để cứu giúp những người hấp hối. Thế nhưng, đó chính là những gì ngài làm. Ngài đã quan tâm tổ chức thừa tác vụ của các linh mục để cho không có một bộ phận nào của giáo xứ bị bỏ bê, và mọi người, giàu hay nghèo, đều được đón tiếp và phục vụ.
Ngài đã sống tình yêu Giáo hội cách sâu xa mà ngài tìm cách chia sẻ cho các chủng sinh. Ngài thường diễn tả tình yêu này trong cuốn Hồi Ký của mình, chẳng hạn vào tháng Chín năm 1642 : «Hôm qua, tự bên trong, tôi cảm thấy một bó buộc lớn lao cầu nguyện cho Giáo Hội, vì tình yêu bao la mà Ngài dành cho nó…Vì thế các linh mục phải bắt chước Chúa Phục Sinh và họ phải cầu nguyện liên lỉ cho sự tăng trưởng của Giáo Hội và của Nước Thiên Chúa » (Hồi Ký IV, tr. 36).
Tình yêu của ngài danh cho hết mọi người và dĩ nhiên là cho các tội nhân : « Nếu các linh mục tiếp xúc và nói chuyện với các tội nhân, thì họ phải coi mình như là gánh lấy tội lỗi của họ trước nhan Thiên Chúa, và do đó…họ phải cảm thấy bó buộc sám hối đền tội thay cho các tội nhân » (Hồi Ký).
Luôn ấp ủ lòng ước ao Chúa Thánh Thần, mà Chúa Kitô Phục Sinh sai đến, cha Olier nói : « Do đó, các linh mục phải bắt chước Chúa và sẵn sàng cho Thánh Thần của Ngài…, và như Ngài, họ phải cầu xin Thiên Chúa cho sự hoán cải của mọi người… » (Hồi Ký).
Suy nghĩ về thừa tác vụ dưới ánh sáng của Thánh Thể, cha Olier đi đến chỗ nói rằng các linh mục phải giao phó mạng sống mình và hiến thân làm lương thực như Chúa Kitô.
Tinh thần tông đồ này không phải điều gì mới mẻ đối với độc giả. Trong những ngày cầu nguyện đầu tiên của tập sách này, chúng tôi đã nói về điều đó như là một yếu tố thiết yếu của đời sống thiêng liêng của cha Olier. Việc ngài mong ước khắc ghi tinh thần tông đồ đó cho các linh mục tương lai mà ngài đào tạo thì không có gì là ngạc nhiên cả.
Nhưng để kết thúc hành trình cầu nguyện này, chúng tôi cũng xin nhấn mạnh sự quý mến sâu xa mà cha Olier dành cho đời sống Kitô hữu của các tín hữu. Chẳng hạn, ngài không do dự gán cho mọi Kitô hữu phẩm giá tư tế. Nơi một đoạn khác của tập Hồi Ký, ngài tuyên bố : « Chúa Giêsu là linh mục và Ngài không thể bị tước đi phẩm giá này mà Ngài đã bảo tồn mãi mãi nơi chính mình : « Con là Tư tế đời đời » (x. Dt 5, 6 trích lại Tv 109, 4). Như thế, Ngài mang lấy phẩm giá này với mình ở đâu Ngài cư ngụ. Đó là lý do tại sao tất cả các tín hữu trong Chúa Giêsu Kitô đều là tư tế : « là hàng tư tế vương đế, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa » (1 Pr 2, 9). Hỡi các tín hữu trong Chúa Giêsu Kitô, anh em là vương đế và là tư tế, chức tư tế của anh em sẽ là đời đời như chức tư tế của Chúa Kitô ».
Lập luận của ngài dựa vào Kinh Thánh và vào xác tín đức tin : Chúa Giêsu cư ngụ nơi các Kitô hữu bằng Thánh Thần của Ngài. Vậy mà Chúa Giếu là tư tế, thậm chí là Tư Tế tuyệt hảo, như thư Do Thai đã nhấn mạnh. Mọi Kitô hữu do đó là tư tế nhờ ân sủng của Chúa Giêsu cư ngụ nơi họ. Họ nhận được phẩm giá này lúc chịu phép Rửa Tội và phẩm giá này không thể bị tước đi khỏi họ.
Tư tưởng của cha Olier có lẽ sẽ gây ngạc nhiên vì tính hiện đại của nó. Các Kitô hữu là những tư tế ; họ dâng lên Chúa Cha lời ca tụng của thế giới ; họ dâng Thánh Lễ nhân danh nhân loại ; họ trở nên những người cầu bầu để bày tỏ những cầu xin và nhu cầu của mọi người cho Chúa Cha trong Chúa Giêsu Kitô ; họ như là những bí tích mang Chúa Giêsu Kitô ở giữa thế gian. Như thế, đối với cha Olier, có thể nói rằng chức tư tế của các linh mục là nhằm phục vụ chức tư tế của các Kitô hữu, để giúp cho họ hiểu và sống phẩm giá kỳ diệu của mình.
——————————–
(1) Vua Louis XIII. Về sau vào năm 1624, thân phụ của ngài được bổ nhiệm làm cố vấn cho nhà Vua (conseiller d’Etat) (chú thích của người dịch).
(2) « Chao ôi ! thưa quý ngài, quý ngài làm cho tôi đau buồn lắm ! Tôi cầu nguyện cho quý ngài hoán cải lâu lắm rồi : tôi hy vọng một ngày nào đó Chúa sẽ nhậm lời tôi », trích trong Gilles Chaillot, Prier à Saint-Sulpice avec Jean-Jacques Olier, Desclée de Bouwer, 1995, tr. 21 (chú thích của người dịch).
(3) Thánh Vincent de Paul sau này (chú thích của người dịch).
Nguyên tác :
Bernard PITAUD, Prier 15 jours avec Monsieur Olier, Nouvelle Cité, n° 111, 2007.
Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ.

To Top