https://template.canva.com/EADah3dXgfY/1/0/400w-Ww3uiGNHTik.jpg




Con Chiên Thứ Ba (Mala Powers)
Tên Khổng Lồ Ích Kỷ (Oscar Wilde (1856-1900)
Lễ Giáng Sinh Của Bác May (Guido Gozzano)
Cuộc Tìm Kiếm (Ernest Hello)
Ðâu Có Tình Yêu Thương (Leon Tolstoi)


6. Con chiên thứ ba


Mala Powers

Làng Fals trong miền cao nguyện nước Áo chuyên về nghề đẽo tượng bằng gỗ. Ðiểm đặc biệt của họ là họ chỉ đẽo các tượng đặt trong hang đá Sinh nhật chứ không dám đẽo hình tượng nào khác. Chẳng may gặp một thời làm ăn khó khăn: không ai đặt hàng mua tượng nữa. Chẳng mấy chốc mà dân làng trở thành nghèo và đói.

Một buổi chiều kia, ông Tâm, một tay thợ đẽo gọt có tiếng của làng, đi vào xưởng làm việc. Ông bắt gặp một em bé tóc vàng đang giỡn chơi với những con vật đang quỳ bên cạnh hang đá Chúa Hài đồng. Ông Tâm ngạc nhiên bởi vì ông không hiểu vì sao em bé khôi ngô như vậy, tuy quần áo rách rưới, mà không được ai dạy dỗ cho biết các tượng trong hang đá đâu phải là đồ chơi trẻ con.

Như đoán được ý của ông Tâm, em bé nâng bổng một con chiên, ôm sát ngực và thưa với ông: ” Chúa Hài đồng sẽ không giận đâu. Chúa biết rằng cháu không có đồ gì để chơi cả”.

Ông Tâm nghẹn ngào : “Ðược rồi, bác sẽ đẽo cho cháu một con chiên nhé, một con chiên biết lúc lắc cái đầu. Sáng mai cháu trở lại đây mà lấy. À này, nhà cháu ở đâu, sao bác không hề thấy cháu bao giờ?”

“Ðằng kia kìa !”. Vừa nói em bé vừa chỉ tay về phí trên cao chóp núi. “Cháu ở với ba cháu”.

Hôm sau, trước khi ăn trưa, ông Tâm đã đẽo xong con chiên rồi. Ông đang định đóng cửa đi ăn thì một thiếu phụ bồng con đến xin bố thí. Ông Tâm buồn rầu vì không có gì để cho hai mẹ con. Trong khi đó, thằng bé vơ lấy con chiên vừa mới đẽo, và khi ông tìm cách lấy lại thì nó khóc thét lên.

Vốn có lòng tốt, ông Tâm trao lại con chiên cho nó, và nó cười khóai trí khiến cả xưởng đều vui lây.

“Thôi cũng được”, ông Tâm tự nhủ, “ta sẽ đẽo con chiên khác thay thế”.

Chiều tối đến, ông Tâm vừa đẽo xong con chiên thứ hai thì thằng Hòang, một đứa trẻ mồ côi, đến thăm ông. “Ôi con chiên đẹp quá ! Bác cho cháu đi, Ngày mai cháu vào cô nhi viện, và cháu muốn mang theo con chiên này cho có bạn”.

Ông Tâm tử tế đáp: “Ừ, thì lấy đi, Hoàng. Bác sẽ đẽo con chiên khác”.

Ông Tâm đẽo con chiên lần thứ ba. Nhưng em bé tóc vàng vẫn không thấy trở lại. Con chiên cứ nằm trên ngăn kệ của xưởng làm việc.

Tình trạng của làng Fals càng ngày càng tệ. Lần đầu tiên ông Tâm nghĩ đến việc đẽo các thú vật và đồ chơi cho các em bé để chúng quên đi cái đói cào ruột.

Thế rồi một hôm, có một người lái buôn đi ngang xưởng làm việc của ông Tâm. Gã đề nghị mua hết tất cả các món đồ chơi mà ông Tâm đã chế ra. Nhưng ông từ chối bởi vì ông không muốn đẽo để lấy tiền. Người lái buôn trước khi ra đi còn nói thêm: “Tôi còn ở lại đây mấy ngày nữa, trọ ở quán đầu làng. Nếu bác thay đổi ý kiến thì cứ đến báo tôi”.

Ông Tâm thẳng thắn trả lời: “Không bao giờ tôi đổi ý đâu, trừ khi Chúa gửi đến một điềm lạ”.

Một lát sau, cha xứ trong làng đến xưởng ông Tâm để xin ông ta con chiên thứ ba còn nằm trên ngăn kệ. Cha muốn xin cho bé Dung đang đau nặng. Ông vui vẻ đáp : “Ðược rồi, chính con sẽ mang nó đến tận nhà em bé Dung”.

Khi ông Tâm từ nhà bé Dung trở lại xưởng, ông đi ngang một cánh đồng phủ đầy tuyết. Thình lình em bé tóc vàng xuất hiện ngay trước mặt ông. Ông Tâm thốt lên: “Bé ơi, bác đã giữ con chiên thứ ba cho đến mãi hôm nay. Sao cháu không tới ? Thôi, bác sẽ đẽo con chiên khác”.

Nhưng em bé lắc đầu: “Không, cháu không cần con chiên khác. Những con chiên mà bác đã biếu hai mẹ con xin bố thí, hoặc biếu cho thằng Hòang, hoặc cho bé Dung là bác biếu cho cháu đấy”.

Rồi em bé xòa bày tay ra. Từ ánh sáng lung linh tỏa chiếu từ em bé, ông Tâm thấy bóng một cây thánh giá trên mặt tuyết. Ông chợt hiểu và quỳ gối xuống.

Em bé mỉm cười nói tiếp : “Này bác Tâm, bác biết không ? Ðẽo một đồ chơi cũng có thể làm vinh danh Thiên Chúa như khi đẽo các tượng thánh đặt trong hang đá nhà thờ. Tiếng cười nắc nẻ của một em bé thơ ngây cũng làm vui tai Thiên Chúa như ca đoàn hợp tấu của các thiên sứ vậy”. Trong nháy mắt, em bé biến mất.

Tối hôm ấy, ông Tâm ra quán trọ đầu làng để gặp gã lái buôn.

– Ðược rồi, tôi sẽ đẽo đồ chơi mà bác muốn.

– Thế là bác đổi ý rồi chứ ? Gã lái buôn hỏi lại.

– Không. Tôi đã nhận được điềm từ trời.

Ðôi mắt ông Tâm ngấn lệ.

—————————————

7. Tên khổng lồ ích kỷ


Oscar Wilde (1856-1900)

Mỗi buổi sáng, khi tan lớp học, bầy trẻ ùa vào khu vườn của chàng khổng lồ. Ðó là một khu vườn rộng mênh mông, với lớp cỏ xanh rì và mịn màng, với những bông hoa thấp thó đây đó tựa hồ những ngôi sao lấp lánh. Ðó là chứ nói đến những cây đào với cành hoa màu hồng vào mùa xuân và mang lại những chùm trái ngọt khi bước sang thu. Thỉnh thỏang, những đàn chim đáp xuống trên ngọn cây, cất giọng hát líu lo, kéo chú ý của cả đàn trẻ đang nô đùa, khiến chúng nín lặng để nghe chim ca.

Bỗng một hôm tên khổng lồ trở về nhà. Hắn đi vắng từ bảy năm nay, đi thăm ông Chằng Mập Thù lù, bạn của hắn. Sau khi đã nói hết những chuyện phải nói rồi, hắn trở về lâu đài của mình, và quyết định sẽ không bao giờ ra khỏi nơi này nữa. Về tới nhà, hắn thấy trong vườn của hắn có một bọn con nít nô đùa. Hắn tức giận la hét: “Tụi bây làm gì trong khu đất nhà tao vậy?”

Bọn trẻ sợ hãi, chạy trốn hết. Hắn được dịp nạt thêm: “Vườn nhà tao là của tao, không được đứa nào lui tới, nghe rõ chưa ? Tao sẽ xây bức tường thật cao và viết rõ bản cấm vào”.

Bọn trẻ buồn hết chỗ nói. Tên khổng lồ ích kỷ quá. Từ nay bọn trẻ hết chỗ chơi rồi. Ðường sá thì bụi bặm và lởm chởm đá sỏi. Mỗi lần tan học, đi ngang qua bức tường vây quanh khu vườn của tên khổng lồ, bọn trẻ không ngớt tiếc xót: “Chà, trước đây tụi mình chơi giỡn trong đó thật là thích”.

Thế rồi mùa xuân đến. Cánh đồng lại trổ bông, Ðàn chim lại trở về trên các ngọn cây. Nhưng trong khu vườn của tên khổng lồ thì mùa đông vẫn kéo dài. Ðàn chim không đáp xuống ca hát vì không thấy trẻ em; các cành đào cũng quên trổ bông nữa.

Một bữa nọ, một nụ hoa vừa ló đầu khỏi mặt đất, chợt thấy bản cấm mà tên khổng lồ đã treo, thì nó vội chui tụt xuống đất và ngủ tiếp. Duy chỉ có bà Tuyết với ông Băng là khóai chí: “Chà, nàng Xuân đã quên khu vườn này rồi. Tụi mình có thể ở lại đây suốt năm luôn”.

Thế là ông Băng tiếp tục phủ các cành cây, còn bà Tuyết thì trải lớp thảm trắng che cả cánh đồng cỏ. Chúng còn mời thêm cả cơn gío bấc rít lên dữ dội cả ngày, và rủ mưa đá đập bể các cửa sổ, gạch ngói.

Tên khổng lồ rét run, sợ hãi khi nhìn qua cửa sổ: “Không hiểu tại sao năm nay không thấy mùa xuân đến. Mong sao cho thời tiết khá hơn một tí, chứ cứ điệu này thì chết mất !”. Nhưng mùa xuân rồi đến mùa hè vẫn không tới. Khi trong thôn xóm, mùa thu đã làm chín các trái cây, thì khu vườn của tên khổng lồ vẫn chìm dưới tuyết, băng, gió bấc và mưa đá.

Một buổi sáng nọ, tên khổng lồ thức giấc và nghe thấy một điệu nhạc rất êm dịu: “Cái gì vậy kìa? Dàn nhạc của nhà vua chăng?”

Nhưng không, đó là tiếng hát của chim sơn ca. Ðã từ lâu lắm tên khổng lồ không còn nghe chim hót, nên hắn không còn biết phân biệt các điệu nhạc nữa.

Lạ chưa! Vừa nghe tiếng chim ca, gió bấc không còn gào thét nữa, mưa đá không đập vào mái nhà nữa. Tên khổng lồ mừng rỡ: “Mùa đông đã qua rồi!”. Hắn nhảy phóc xuống giường, nhìn ra cửa sổ. Hắn thấy cảnh tượng lạ lùng. Một bầy trẻ đã xuyên thủng bức tường, và lọt vào khu vườn. Chúng leo trèo trên các cành cây. Nghe tiếng trẻ nô đùa, các cây cỏ tươi tỉnh lại, phủi hết lớp tuyết trên đầu. Các bông hoa cũng chui ra nhỏen nụ cười với bầy trẻ. Ðàn chim cũng không chịu thua: chúng thi nhau trổ những giọng líu lo du dương nhất.

Duy có một góc vườn vẫn còn mùa đông. Ðó là một góc vườn xa nhất. Một em bé tí hon đang loay hoay đi vòng quanh một cây cổ thụ phủ đầy tuyết. Gío bấc thổi từng tràng khiến cây cổ thụ run lập cập với các cành lá cứ trĩu xuống mặt đất. Cây cổ thụ rên siết van lơn em bé tí hon: “Bé ơi, ráng chạm đến ta đi, bám vào ta đi !”.

Em bé cố gắng vươn lên để chạm cành cây cổ thụ, nhưng với mãi không tới. Tên khổng lồ cắm mắt nhìn cảnh tượng ấy, lòng bồi hồi cảm động; “Bây giờ ta đã hiểu rồi. Ta ích kỷ quá … Ðược rồi, từ nay mùa xuân phải trở về trên khu vườn của ta. Ta sẽ đặt em bé tí hon trên cành cây, rồi ta sẽ đạp đổ bức tường. Vườn của ta sẽ mãi mãi thuộc về đàn trẻ thơ”.

Tên khổng lồ từ từ bước xuống thang lầu và tiến ra mở cánh cổng của lâu đài, Vừa thấy hắn, bọn trẻ hỏang sợ chạy tán lọan.

Khu vườn trở lại mùa đông giá. Nhưng em bé tí hon trong góc vườn không nhích gót, bởi vì em không thấy tên khổng lồ. Hắn tiến lại gần em bé, và nhẹ nhàng nâng bổng em lên, đặt êm trên một cành cây.

Bỗng nhiên, các cành cây đều nở rộ bông hoa, các đàn chim kéo đến ca hát, em bé tí hon quàng tay lên cổ tên khổng lồ và tặng hắn một cái hôn yêu mến.

Khi các đứa trẻ thấy tên khổng lồ không còn dữ tợn nữa, chúng lại trở vào vườn, và mùa xuân cũng chạy theo chúng.

“Từ nay vườn này thuộc về các cháu”, vừa nói tên khổng lồ vừa đạp đổ bức tường.

Ðến trưa, các bà mẹ đi chợ về có thể thấy tên khổng lồ đang đùa giỡn với các thiếu nhi trong khu vườn đẹp nhất trên thế giới.

Chiều đến, tất cả các thiếu nhi đến từ gĩa tên khổng lồ. Tên khổng lồ nhìn trước nhìn sau nhưng không thấy em bé tí hon, em bé đã hôn chàng.

“Em bé tí hon đâu mất rồi ? Em bé mà ta đã đặt trên cành cây ấy mà ?”

Các em trả lời: “Chúng cháu cũng không biết nữa. Chắc nó về nhà rồi”.

Tên khổng lồ nhắn các em: “Nhắn em ấy trở lại đây ngày mai nhé”.

Nhưng không ai biết em bé tí hon ở đâu, bởi vì trước đó chưa ai thấy các em cả. Tên khổng lồ buồn lắm. Mỗi ngày, khi tan học, các em nhỏ vào chơi trong vườn, nhưng không thấy em bé tí hon đâu. Tên khổng lồ dò hỏi tin tức của em, mong muốn gặp em, nhưng không cách nào tìm ra chỗ em ở.

Năm tháng trôi qua.Tên khổng lồ trở nên già. Hắn không thể đùa giỡn với các thiếu nhi nữa. Mỗi ngày hắn chỉ ngồi trên ghế để xem các chạy nhảy tung tăng trong vườn. Hắn ngẫm nghĩ: ” Vườn ta lắm hoa thật, nhưng không hoa nào đẹp cho bằng các nhi đồng”. Bây giờ hắn không còn sợ mùa đông nữa, vì hắn biết rằng vào mùa ấy, nàng Xuân đi ngủ một giấc, các bông hoa cũng xả hơi nhưng rồi sẽ tới lúc xuân thức giấc và hoa lại nở.

Bỗng nhiên, tên khổng lồ dụi mắt và trân tráo nhìn thẳng về đàng trước: có cái gì lạ thường quá! Trong góc vườn xa tít nhất, có một cây phủ đầy hoa trắng tinh. Từ những cành cây bằng vàng óng ánh, những trái bằng bạc buông thõng xuống. Dưới các cành cây là em bé tí hon mà tên khổng lồ tìm kiếm bao nhiêu năm nay. Hắn liền xuống thang lầu, mở cửa lâu đài và tiến nhanh về phía em bé tí hon ấy. Nhưng khi đến gần em bé, hắn liền nổi sùng trừng trộ: “Ai đã làm hại em bé này vậy?”.

Thực ra hai bàn tay của em mang vết thương còn đỏ máu và đôi chân xinh xắn của bé có dấu đinh đâm thủng. Tên khổng lồ hét lớn: ” Ai cả gan làm em bé bị thương thế này? Nói cho ta biết, và ta sẽ lấy gươm phanh thây nó ra!”.

Nhưng em bé trả lời nhỏ nhẹ: “Không có ai hết. Ðây là những vết thương của tình yêu thương”.

“Thế thì em là ai vậy?” Tên khổng lồ?hỏi lại. Bỗng nhiên hắn thấy sờ sợ, và quỳ phục xuống đất.

Em bé mỉm cười: “Bữa nọ, ngươi đã cho ta được giỡn trong vườn của ngươi. Hôm nay, ngươi sẽ được vào vườn của ta tức là Thiên đàng”.

Chiều hôm ấy, sau lúc tan học, khi các trẻ em trở lại khu vườn để nô đùa, chúng thấy tên khổng lồ nằm chết dưới cây, mình phủ đầy hoa trắng.

————————————–

8. Lễ Giáng sinh của bác May


Guido Gozzano

Ngày Chúa Giêsu ra đời, ở một xứ xa xăm kia có một nông dân kia tên là May. Vợ bác đã mất, để lại cho bác một bầy con nheo nhóc.

Hôm ấy là ngày áp lễ Chúa Giáng sinh. Bác May đứng ở thềm cửa, mắt đăm chiêu với bao mối ưu tư. Tiền không có, việc làm cũng không: biết lấy gì nuôi đàn con nhỏ dại đây ?

Bỗng nhiên bác nghe thấy một tiếng thét trong nhà: bọn trẻ rú lên. Bác định chạy vào xem có chuyện gì xảy ra thì thấy một kẻ vô danh đứng cản trước mặt: “Này bác May, bác đang nghĩ cái gì đó ? Sao vẻ mặt buồn thế ?”

Bác May ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của người lạ mặt. Nhưng bác đã sớm định thần lại và đáp: “Thưa ông, tôi buồn đâu phải không có lý do. Mấy đứa con tôi đang đói mà trong nhà không còn một mẩu bánh. Tôi thì thất nghiệp. Biết làm sao đây?”

– Nếu bác chịu làm việc cho tôi, tôi sẽ trả lương bội hậu cho bác.

– Thế thì còn gì hơn nữa!

– Ðược rồi, ngày mai bác lên trên đồi phát hết đám cỏ tranh kia, rồi tới chiều tôi sẽ trả công cho.

– Nhưng mai là lễ Chúa Giáng sinh, lễ trọng nhất trong năm. Ông quên rồi sao ? Ðể tới sau ngày lễ tôi sẽ bắt đầu.

– Như vậy là bác đâu có thiếu tiền như bác đã than đâu ?

– Này, có Chúa làm chứng, tôi đang chết đói đây nè !

– Vậy bác cứ làm theo như tôi đã chỉ.

Lúc ấy bác May nghe tiếng khóc rên của lũ trẻ từ bên trong nhà ra như hối thúc ông quyết định mau lẹ.

– Thôi được. Tôi sẽ làm như ông bảo, bởi vì mấy đứa con nhỏ. Chúa thấy hết mọi sự. Chắc Ngài sẽ tha thứ cho tôi.

– Rồi nhé ? Sáng mai ra gặp tôi trên đồi, và đến chiều tôi sẽ trả tiền công.

Nói xong người lạ mặt biến mất.

Sáng hôm sau, bác May dậy rất sớm. Sau khi đọc kinh sáng như thường lệ, bác chấm tay vào nước thánh làm dấu thánh giá. Bác còn dừng lại ở cửa, ngần ngừ đôi chút. Sau cùng, bác xách liềm lên ngọn đồi, và bắt đầu phát cỏ.

Bác làm việc suốt ngày. Thỉnh thoảng luồng gió thổi đến, mang theo tiếng ngân của hồi chuông giáo đường giục giã báo tin ngày đại lễ.

Bác May tiếp tục phát cỏ, miệng lâm râm mấy câu kinh, và thỉnh thỏang lẩm nhẩm: “Chúa thấy rõ mọi sự. Ngài sẽ tha thứ cho tôi”.

Vào mùa đông, mặt trời sớm lặn. Bác May ngừng tay lại, ngồi nghỉ giây lát trên một phiến đá, thấp thỏm chờ đợi. Sao người lạ mặt không thấy tới nhỉ ?

Bỗng nhiên bác nghe tiếng lách tách. Quay mặt lại, bác thấy tất cả đám tranh bốc lửa cháy hết. Trong phút chốc chỉ còn đám tro tàn. Bác May òa lên khóc.

– Thôi thế là công toi rồi. Tôi đã làm việc suốt ngày, bụng đói. Bây giờ thì chỉ còn lại bàn tay trắng. Ôi, tội cho tôi quá !

– Kìa, bác May. Có gì mà khóc lóc om sòm vậy ?

Bác May dụi mắt ngẩng đầu lên và thấy lờ mờ bóng của một người lạ mặt khác. Bác kể lể sự tình : – Tôi biết là tôi có tội vì đã lỗi ngày lễ trọng. Nhưng đàn con tôi đang đói nheo nhóc… biết làm sao được ?

Người lạ mặt tiến lại gần, cầm tay bác, ôn tồn an ủi: “Ðừng lo gì. Bác May ạ. Tôi sẽ trả công cho bác bội hậu. Bác về nhà đi và sẽ thấy phần thưởng. Nhưng bác phải sử dụng khôn khéo gia tài của bạn nhé. Bác đừng bao giờ đóng cửa nhà hay đóng túi tiền trước mặt người bất hạnh”.

Rồi người lạ mặt biến mất.

Bác May vội vã trở về nhà. Bác dụi mắt mấy lần vì cứ tưởng mình đang mơ. Căn nhà tồi tàn không còn nữa. Giữa một lùm cây cổ thụ hiện ra một ngôi biệt thự với cửa sổ sáng choang của buổi dạ hội. Các con cái đứng chờ bác ở cửa, mặt mày hớn hở, xúng xính trong bộ đồ mới. Chúng níu tay bác, lôi vào nhà, tới trước bàn tiệc thịnh sọan. Bức tường dơ bẩn trước kia giờ đây đã được sơn quét lại. Màng nhện, mồ hóng biến đi hết. Trên tường chỉ còn lại cây thánh giá: cây gỗ thánh giá xưa nay dùng làm bàn thờ cầu nguyện. Bác May xúc động quỳ gối trước cây thánh giá, nghẹn ngào không tả nổi hết sự sung sướng.

Kể từ đó, bác May thay đổi nếp sống. Bác tậu thêm những mẩu ruộng của người láng giềng. Dần dần cơ nghiệp của bác cứ nới rộng cho đến tận chân trời. Thiên hạ đều sửng sốt trước sự giàu sang của bác, và đóan rằng bác mới đào được một kho tàng ẩn giấu đâu đó.

Về phần bác May, bác giữ lời hứa với người ân nhân vô danh. Khong kẻ bạc phước nào đến gõ cửa nhà bác mà không nhận được một lời an ủi và ít tiền độ đường.

Nhưng rồi tính tình bác dần dần thay đổi. Tiền bạc khiến con tim thành chai đá. Bác quên thân phận long đong trước đây. Chung quanh bác chỉ còn những đứa nịnh bợ, tâng bốc. Bác cũng chỉ muốn làm quen với người quyền thế. Bác May đại-phú-gia không mấy chốc biến thành kiêu căng ngạo nghễ.

Thóat chốc một năm trôi qua. Lễ Giáng sinh đã đến, ngày lễ trọng đại đã làm thay đổi cuộc đời bác từ năm ngoái. Bác May mở tiệc thịnh sọan, mời hết các phú gia và thân hào trong xứ. Trên tường phòng ăn, bác ra lệnh cất cây thánh giá đi. Bác cùng ra lệnh cho gia nhân không được để tên hành khất nào lai vãng đến lâu đài. Hai võ sĩ lực lưỡng được đặt ở cổng để ngăn cản những ai không có thiệp mời khỏi bén mảng tới buổi hội.

Tuy vậy, khi các thực hành sắp sửa ngồi vào bàn tiệc, không hiểu bằng cách nào mà một lão hành khất lọt được vào sân. Bọn gia nhân tức tối, xúm lại lôi xếch lão ra cổng: “Ai cho mày vào đây, cút đi!”

Và họ còn giơ gậy lên để dọa nạt lão, bất chấp tiếng van lơn: – Vì lòng Chúa nhân từ, xin ngài hãy cứu giúp kẻ bất hạnh này!

– Không được. Hôm nay là ngày lễ. Mai trở lại, người ta sẽ cho.

Nhưng lão cứ năn nỉ, la lớn tiếng ra như muốn cho những thực khách cũng nghe thấy. Quả vậy, bác May đã nghe thấy. Bác mở cửa sổ, tức giận vì những tiếng om sòm đã làm khuấy động bữa tiệc đang vui. Bác quát: “Tao đã bảo là phải ngăn cản hết những tên ăn mày. Ðuổi thằng đó ra. Nếu nó không chịu nghe, thì sổ chó dữ ra đuổi”.

Bọn gia nhân thả bầy chó bẹc-giê ra. Nhưng mấy con chó chỉ liếm tay lão. Lão buồn rầu, lắc đầu và rút lui.

Bác May trở vào bàn tiệc, tiếp tục ăn uống, cười nói hả hê.

Một lát sau, một cỗ xe lộng lẫy với bốn con bạch mã tiến vào sân lâu đài. Nhìn qua cửa, người ta thấy một ông hòang với bộ y phục óng ánh kim cương.

Lũ gia nhân đến báo cho ông chủ. Bác May rời bàn tiệc, tiến ra cửa để đón tiếp thượng khách. Bác May cúi rạp mình xuống đất, miệng ấp úng vì được ông hòang chiếu cố đến thăm bác. Nhưng ông hòang từ chối.

– Cám ơn, tôi không vào. Hồi nãy tôi tới đây như một kẻ hành khất, các người xịt chó đuổi tôi. Bây giờ tôi đến trong y phục một ông hòang thì các người cúi rạp xuống đất. Mời ông lên xe đi với tôi một lát, vì tôi có chuyện cần phải nói.

Bác May theo ông hòang đến tận chân đồi, nơi mà năm ngóai ông đi phát cỏ tranh.
– Này bác May. Bác quên lời hứa cách đây một năm rồi ư? Một năm giàu sang phú quý đã đủ để biến một con người đạo đức thành một tên kiêu căng. Tài sản đã làm con tim thành chai đá. Ðã thế thì sự khó nghèo sẽ làm con người trở lại đạo hạnh.

Người lạ mặt biến mất. Bác May quay trở lại lâu đài. Nhưng lâu đài không còn nữa. Tuyết phủ đầy cảnh vật. Ðàng sau lùm cây, bác thấy một mái nhà điêu tàn như hồi xưa, với ngọn đèn dầu leo lét. Về gần tới nhà, bác nghe tiếng mấy đứa nhỏ khóc vì bụng đói.

Lâu đài, gia nhân, bàn tiệc biến đâu hết rồi. Bác May cảm thấy sự xúc động trở lại trong con tim. Thế là bác trở về với cuộc đời khó nghèo, cuộc đời tìm sự cứu độ.

Ngày lễ Giáng sinh. Chúa Giêsu xuống thế dưới những bộ mặt khác nhau để răn bảo người đời.

———————————–

9. Cuộc tìm kiếm


Ernest Hello

Ông ta là Hòang Ðé vĩ đại nhất trong thiên hạ thời đó. Sánh với ông, các vương tước chỉ xếp ngang hàng với xã trưởng. Mỗi chiếc cột trong sân cung điện của ông là một di tích lịch sử mang dấu kinh đô của các cường quốc trên thế giới.

Lũ bầy tôi mỗi lần đến phục dịch đều sấp mặt sát đất khi tới gần ông ta. Và họ làm một cách tự phát chứ không do ai cưỡng bách cả, bởi vì họ thấy bị đè bẹp trước vẻ oai phong lẫm liệt của ông.

Bên cạnh vẻ uy nghi giàu sang như vậy, chắc hẳn ông hạnh phúc lắm. Ðến nỗi thần dân không hề dám nói “sướng như đức vua” bởi vì sợ làm giảm giá hạnh phúc của ông khi mang so sánh với các vật phàm khác. Nhân dân xem ra hãnh diện vì được một ông vua như vậy. Người ta nói rằng chỉ cần thấy vua hạnh phúc là mình cũng đủ sướng rồi.

Thế nhưng từ ít lâu nay trời có vẻ tối sầm lại. Mặt trời hình như đã bớt sáng, nhân dân cũng bớt vui. Nhưng không ai dám hỏi xem phải chăng đã có làn mây nào đã thóang qua vầng trán của nhà vua chăng. Thật vậy, trên vầng trán của nhà vua một làn mây đã cả gan dám bay qua.

Thường thường nhà vua ít khi xuất hiện lắm. Ông ngủ tận trong thâm cung. Ông chỉ tiếp những cận thần nào mà ông ngỏ ý muốn thấy mặt. Ai vô lễ dám nhìn vua mà không được chính thức được triệu đến hay ban phép thì sẽ bị xử tử tức khắc.

Một bữa kia, vua triệu tập các quan đại thần và các học sĩ và hỏi: “Tâm thần ta đang bị một đòi hỏi mới ám ảnh và dày vò. Danh giá của ta là một gánh nặng; việc cai trị đối với ta đã nhàm chán. Ta muốn biết Thượng đế ở đâu. Ta muốn biết danh tánh của Ngài”.

Mỗi quan đại thần và học sĩ lần lượt nêu lên một danh tánh. Ðang giữa buổi triều yết trang nghiêm như vậy bỗng có tiếng xôn xao náo động ngòai sân đình. Nhà vua hỏi : – Cái gì vậy?

– Tâu thánh thượng, xin Ngài đừng bận tâm. Ðó là một con chó mà hạ thần muốn đuổi đi đấy thôi !

Nhưng thực ra đâu phải là một con chó, mà là một người hành khất. Duy có điều là cả nước đều biết tên hành khất đó. Người ta gọi hắn là Thằng Chó, vì thấy hắn khốn nạn lắm. Sánh với hắn, các người hành khất khác xứng với hàng quan lại. Người ta nói rằng hắn đi bốn cẳng giống như con chó vậy. Vì thế không biết có phải là người hay là con chó hiện thân nữa !

Buổi triều yết cứ tiếp diễn. Cuộc thỉnh vấn kéo dài khá lâu, vì nhiều bậc thông thái góp ý đôi khi dài như một bài diễn văn vậy.

Thế rồi từ sau buổi họp đó, vầng trán của đức vua càng ngày càng tối sầm, làn mây trở thành dày đặc hơn. Thật ra buổi tối hôm nọ, trong hòang cung người ta cũng cảm thấy đôi phút giải trí. Ðó là khi thắng Chó đến xin yết kiến đức vua, mà như ai cũng đã biết, ngài là Hòang đế oai phong nhất thiên hạ. Quả là một ý tưởng không ai dám mơ đến. Hơn thế nữa, hắn lại lựa vào lúc đức vua bận rộn nhất để bày tỏ ý nghĩ ngông cuồng ấy mới tức cười chứ!

Trong khi ấy, vầng trán đức vua cứ tối sầm mãi. Ông triệu tập lần thứ hai tất cả các đại thần, học sĩ, và truyền gọi thêm các nhà chiêm tinh chuyên nghiên cứu các tinh tú trên trời. Khi bá quan đã tề tựu đông đủ, nhà vua đứng lên và thổ lộ cách thảm đạm rằng : – Ta vẫn không được bằng an. Ai trong các ngươi biết Danh của Thượng đế Thiên hòang ra sao không?

Mỗi người lần lượt lên tiếng. Họ trổ hết tài uyên bác của mình để dọn các bài diễn văn kỹ lưỡng hơn lần trước. Họ tự nhủ thầm: “Giả như mình mách được cho đức vua biết tên của Chúa Tể Thiên Hòang thì ắt chỉ có Chúa với đức vua biết được khối gia tài đồ sộ sẽ rơi vào tay ta, và thêm biết bao ngai báu nữa!”

Ðang khi ấy, lại có tiếng xôn xao trong dinh. Thằng Chó lại đến. Và người ta lại phải xua đuổi nó lần nữa. Những tiếng cười đắc chí pha lẫn lời sỉ vả mắng nhiếc. Hắn nằng nặc cứ đòi yết kiến đức vua cho kỳ được. Những tiếng chửi rủa cùng với những hòn gạch thi nhau rơi vào mặt hắn, để đáp lại lời van xin điên rồ của hắn. Nhà vua từ trên cửa sổ nhìn thấy cảnh tượng ấy. Vầng trán của vua thóat chốc trở nên bớt căng thẳng hơn khi thấy một vật, không hiểu là người hay là chó nữa, dám đòi yết kiến ông. Ông bật lên cười. Bá quan và các nhà chiêm tinh nãy giờ theo dõi sự việc nhưng không dám hé răng, bây giờ thấy nhà vua bật cười, thì họ coi như được phép để bộc lộ tất cả nỗi khóai trá của mình thành trận cười dòn dã.

Nhưng sự hả hê chỉ kéo dài chốt lát. Nỗi buồn kế tiếp tang thương đến mỗi mọi ngôn từ tắt ngụm trên môi bá quan học sĩ. Họ lần lượt ra vềm trong lòng chất nặng nỗi kinh hãi cũng ngang với niềm kiêu hãnh khi họ được triệu đến, bởi vì họ lo sợ nhà vua có thể nổi cơn thịnh nộ trước sự bất tài của họ.

Rồi từ đó, ai ai đi ngang hòang cung đều cảm thấy như có một tấm màn đen viền vàng treo trước cổng. Cái chết của nhà vua trở thành đầu đề cho các cuộc bàn tán mỗi ngày. Giấc ngủ đã lánh khỏi chăn nệm của nhà vua, cũng tựa như nụ cười đã trốn thóat đôi môi của ông. Ðức Vua cũng truyền lấy một tấm mành che giấu bức chân dung của mình. Nhìn mình đã mệt, nhà vua cũng chán nhìn bức hình của mình.

Một buổi triều yết lần thứ ba được triệu tập. Lần này quan Tể tướng dùng hết mọi biện pháp để cái trò của Thằng Chó không tái diễn. Trong khi đó, người tâ cho mời các chiêm tinh từ khắp năm châu đến. Mỗi quốc gia cử đến những đại biểu cừ khôi nhất. Các nhà bác học, các nhà thông thái từ khắp bốn phương lũ lượt kéo về. Khi đã đến giờ hội kiến, tất cả các quân vương, nhân tài đều sấp mặt xuống đất bởi vì họ đang giáp mặt với Hòang đế vua các vua cơ mà!

Thế nhưng khuôn mặt của đức vua xanh xao tệ. Giấc ngủ không thuộc vào sổ thần dân của ông nữa; giấc ngủ cũng không tuân hành lệnh của ông. Khi vua truyền nó đến, nó không chịu đến. Ai ai cũng tùng phục vua, chỉ trừ giấc ngủ, khiến vua tức giận hết chịu nổi: dụ nạt nộ, dù van lơn, nó vẫn cứ trơ trơ ra đấy thôi.

Từ khi quan Tể tướng ra lệnh ngăn cấm Thằng Chó không được lai vãng khu vực hòang cung, ra như người ta sợ nó làm mất giấc ngủ của nhà vua, thì cũng từ hôm ấy giấc ngủ đã trốn khỏi cung điện của vua. Giấc ngủ, tiếng cười và quên lãng: ra như ba tên lính đào ngũ, trốn vượt khỏi hàng rào của dinh, và lần lẫn cũng ra khỏi các mái nhà của nhân dân nữa. Bệnh mất ngủ, buồn rầu và ưu tư đến trấn đóng trên thềm các dinh thự, và sai bầy tôi đến xâm nhập cả các mái nhà tranh vách đất. Chính vì vậy mà nhà vua trở nên xanh xao khi các quân vương và bác học từ năm châu đến, mang theo đòan tùy tùng cùng với vàng bạc châu báu. Nhưng mặt mày nhà vua hốc hác, liếc nhìn các phẩm vật cống hiến cách mệt mỏi, ra như muốn hỏi: “Thế có ai mang đến cho ta giấc ngủ hay không? Có ai biết danh tánh của Thượng đế là gì không?”

Các nhà bác học và chiêm tinh được dịp dốc hết kho tàng kiến thức của họ và trổ tài uyên bác hùng biện trong chính cung điện của Hòang đế Vua các vua. Sau đó họ nhìn lên vầng trán của vua và nhìn nhau cách kiêu hãnh. Ai nấy hy vọng rằng giải đáp của mình là tuyệt hảo nhất, vì vậy mà mỗi người đều muốn đọc thấy vẻ đắc thắng trên trán của nhà vua.

Tuy nhiên Hoàng đế đứng dậy không nói một lời nào. Ông cũng chẳng tha thiết đảo mắt nhìn họ nữa, dù chỉ là một cái nhìn khinh bỉ cũng không. Hòang đế đứng lên và biến mất. Cánh cửa đóng sập lại và không ai dám theo ông. Sau giây lát ngỡ ngàng, người ta bắt đầu hỏi nhau: “Ðức Vua đâu rồi?”, và thay vì câu trả lời họ chỉ thấy câu hỏi được truyền đi từ miệng này sang miệng khác: Ðức Vua đâu rồi?”.

Ðêm đã về như thường lệ, nhưng không thấy đức vua đâu cả. Ðến lượt bọn gia nhân cũng đâm hoang mang. Ai biết được vua đi đâu rồi. Người ta bắt đầu lục lọi, khám xét, từ các hành lang, cầu thang, các ngóc ngách trong vườn, kể cả những nơi kín đáo nhất chưa hề có ai đặt chân tới. Thế nhưng vẫn không thấy đức vua đâu cả. Suốt đêm hôm đó, người ta đi tìm kiếm nhưng vô ích. Bao nhiêu giả thuyết, lý lẽ được đặt ra. Kẻ chạy xuôi, người chạy ngược. Triều đình thật không khác một nhà thương điên.

Trong khi đó một đòan lữ hành lên đường hướng về phương Ðông. Từng đòan xe ngựa và lạc đà chở khách trên mình. Các lữ hành chuyện trò vui vẻ, kể cho nhau mục tiêu chuyến đi của mình. Duy một người cứ thinh lặng. Tướng mạo người đo hơi khác thường: y phục lộng lẫy, với một lũ gia nhân không cùng một xứ sở. Mặc dù họ phục dịch ông ta từ chặng khởi hành nhưng không ai biết tên của ông, bởi vì ông không tiết lộ cho ai hết. Vầng trán của ông có vẻ hào hùng; gậy của ông giống như vương trượng. Ông bảo người ta cứ kêu ông là kẻ lữ hành. Ai hỏi ông đi đâu thì ông trả lời: “Tôi cũng chẳng biết nữa”.

Ðến đâu có tên một vĩ nhân để lại một dấu vết gì đó thì kẻ lữ hành dừng lại. Ông ta trải qua hằng giờ, nghiên cứu địa hình, dò hỏi dân cư, lục lọi bút tích. Hoặc giả như một vĩ nhân đã lưu vết trên bãi cát nào đó thì kẻ lữ hành ra ngòai bãi biển, ngồi trên mỏm đá, chống tay lên trán. Khi mặt trời lặn chìm xuống đáy nước, hoặc khi mặt trăng nhô lên từ cuối chân trời, kẻ lữ hành ngồi đó, trơ trơ như bức tượng đá, ôn lại những gì đã nghe, đã thấy, đã tìm, đã học.

Chẳng mấy chốc kẻ lữ hành đã viếng hết các lăng tẩm, các đền thờ, các bia đá kỷ niệm các bậc hiền nhân quân tử. Kẻ lữ hành trầm ngâm, suy tư, ra như muốn thấm nhập với linh hồn của các vị cao minh ấy.

Tuy nhiên trong suốt cuộc tìm kiếm, kẻ lữ hành không bao giờ dành lấy một phút cho người nghèo, kể cả trong các giấc mơ của mình. Quả vậy, kẻ lữ hành đã mơ màng đến nhiều chuyện và nhiều người: các đại đế, võ vương, những phong cảnh hùng vĩ, những kiến trúc đồ sộ. Ðôi lúc kẻ lữ hành mơ thấy chính mình: Hòang đế vua muôn vua. Chỉ có người dư thừa quyền lực và tiền của mới có thể chu du tìm kiếm như ông. Ông ta đi lục lọi, khảo cứu khắp hang cùng ngõ hẻm, chất vấn hết mọi thức giả. Nhưng ông không hề băn khoăn thăm hỏi các bà vợ chạy ngược chạy xuôi để kiếm bát cháo cho người chồng hấp hối. Ông cũng chẳng buồn nhớ tới bao thần dân tất tưởi đói rách trong chính vương quốc của ông.

Cuộc hành trình có dài mấy thì cũng tới lúc chấm dứt. Chẳng bao lâu ông ta đi hết vòng địa cầu và trở về chính hòang cung của mình.

Một bữa kia, người ta thấy nhà vua trở lại cung điện. Thật là khó tả nổi tâm trạng của triều đình lúc ấy. Kẻ rối rít lăng xăng, người thất kinh run rẩy. Dĩ nhiên là có nhiều người phải trốn núp vì quá sợ hãi. Ai biết được cuộc hành trình của nhà vua đã mang lại điều hay hoặc điều dở? Và dĩ nhiên, ông là Hòang đế Vua muôn vua, bá chủ hòan cầu cơ mà. Ông đâu cần hỏi ý kiến của ai, và ai dám mở miệng phê bình ông?

Nhà vua băng qua vườn ngự uyển, tiến vào hành lang tráng lệ, và sau cùng đi vào hậu cung. Lũ quần thần nhìn nhau yên lặng và sợ sệt. Họ mong được thấy nở trên môi nhà vua một nụ cười.

Nhà vua bước lên lầu, ngả người xuống. Mọi người trố mắt quan sát từng cử chỉ của nhà vua. Tóc ông đã bạc. Vầng trán ngạo nghễ đã điểm những làn nhăn. Cặp mắt lạnh lùng, bất động. Một niềm kiêu hãnh còn ín vết trên nét mặt: kiêu hãnh vì vừa thực hiện một cuộc tìm kiếm, tuy là hòan tòan vô ích; kiêu hãnh vì một Ðại vương lớn nhất hòan cầu, dám coi đời không ra gì hết, tuy một nỗi tuyệt vọng đang lớn dần trong tâm can của ông.

Môi nhà vua vẫn không nở nụ cười. Làn mép của vua chỉ hơi xếch đi một tí. Ra như vua nhìn thấy sự trống rỗng của mọi vẻ huy hòang vây quanh mình, hoặc như vua muốn nói với quần thần rằng :- Ta vẫn chưa tìm thấy danh tánh của Thượng đế. Giả như có thể được, tasẽ bắt đầu đi tìm kiếm lần nữa !

Bỗng nhiên vua buông ra một tiếng thở dài, rồi gục đầu xuống, lăn nhào xuống tấm thảm ở dưới ngai.
Triều thần đứng yên bất động. Duy có quan Thái y dám tới gần, rờ vào mạch và tuyên bố: “Ðức Vua đã băng hà”.

Các vua chúa khắp nơi cùng với đòan xa giá kéo nhau về dự lễ an táng Hòang đế vua muôn vua. Thằng Chóa được lệnh quan Tể tướng không được lai vãng tới hòang cung. Hắn ra ngồi ngòai cửa nghĩa trang.

Khi đòan linh cữu đã qua rồi, người thấy Thằng Chó còn quỳ gối ở cửa nghĩa trang.

Hắn chìa ra một cái đĩa bằng gỗ, trên mặt có viết hàng chữ : DANH TÁNH THƯỢNG ÐẾ.

———————————————

10. Ðâu có tình yêu thương…


Leon Tolstoi

Ở một làng kia, có một người làm nghề vá giày tên là bác An. Xưởng làm việc của bác là một cái hầm ở dưới mặt đường. Chỉ có cái cửa sổ để lọt ánh sáng từ ngòai đường vào. Qua khung cửa sổ ấy, bác chỉ thấy những bước đi và nhìn vào những đôi giày, bác có thể đóan được những người ấy là ai. Thật vậy, hầu như người nào trong làng cũng đã từng một hai lần đem cho bác các đôi giày của họ để nhờ bác khâu lại chỗ giày há mõm hoặc thay đế. Chính vì thế mà bác chỉ cần nhìn đôi giày là biết chủ nó là ai. Bác An nay đã già. Bác cảm thấy đời đã xế chiều và sắp đến ngày về với Chúa. Vợ của bác đã qua đời.

Các con của bác cũng lần lượt bỏ bác theo mẹ khi còn trẻ măng. Bác còn nhớ ngày đứa út chết, bác đã nguyền rủa trời đất và bỏ không thèm đi nhà thờ nữa. Bác hòan tòan tuyệt vọng. May thay một bữa nọ, bác gặp một nhà đạo sĩ đi ngang qua làng. Bác chặn lại và kể lể tâm sư : – Thầy coi, tôi không còn muốn sống nữa! Tôi mất hết hy vọng rồi. Tôichỉ còn muốn chết thôi.

Ðạo sĩ trả lời: – Sao bác lại nói thế? Chúng ta là ai mà dám đóan xét việc Thiên Chúa làm. Duy có Chúa mới biết được việc Ngài. Nếu Ngài định cho con bác phải chết mà bác còn sống thì ắt là bởi vì Ngài xét điều này là tốt cho bác. Sở dĩ bác thất vọng là tại vì bác muốn sống cho bác, tìm thỏa mãn cho bản thân mình mà thôi.

Bác An ngắt lời : – Thế thì người ta sống để làm gì?

Ðạo sĩ đáp : – Chúng ta sống cho Thiên Chúa. Ngài đã ban cho ta sự sống thì chúng ta hãy sống cho Ngài. Chừng nào bác bắt đầu sống cho Chúa thì bác sẽ không còn biết sầu muộn là gì nữa, hoặc là bác sẽ dễ dàng chấp nhận nó.

Trầm ngâm một lát, bác An hỏi tiếp : – Làm thế nào để sống cho Chúa?

Ðạo sĩ trả lời : – Làm thế nào để sống cho Chúa ư? Ðó là điều mà Chúa dạy cho chúng ta. Bác có biết đọc sách không? Bác hãy tìm Phúc âm mà đọc, rồi bác sẽ biết làm thế nào để sống cho Chúa.

Những lời đó thấm nhập vào tận thâm tâm bác An. Ngay hôm ấy bác đi tìm mua ngay một quyển Tân ước. Thế rồi mỗi tối, sau khi đóng cửa, bác mở Sách Thánh ra đọc. Dần dần bác không còn than van khi nhớ đến đứa con út nữa. Thay vào đó, bác thốt lên: “Lạy Chúa, vinh danh Chúa, bởi vì ý Chúa đã muốn như vậy”.

Dần dần bác bỏ thói quen la cà các quán rượu vào các ngày Chúa nhật và dành thời giờ nhàn rỗi vào việc đọc Sách Thánh. Một hôm, bác mở cuốn Phúc âm theo thánh Luca, đọc đến đọan kể lại Chúa Giêsu sinh ra ở Belem trong một hang bò lừa vì các quán trọ từ chối. Bác thầm nghĩ: “Tội nghiệp Chúa vì không ai đón tiếp Ngài khi giáng trần. Nhưng liệu tôi có tiếp Ngài hay không?” Mãi ngẫm nghĩ một hồi lâu, bác An ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng một tiếng kêu làm bác giật mình thức dậy : – Bác An, bác An.

– Ai đấy ?

Quay ngang quay dọc, bác không thấy ai cả. Sau một chặp, bác ngủ tiếp. Ðược một lát, bác lại nghe một tiếng rõ ràng hơn: “Bác An, bác An, này, ngày mai tôi đến thăm bác đất”.

Bác hòang hồn đứng dậy, dụi mắt, không biết là mơ hay thực. Sau cùng, bác tắt đèn và đi ngủ tiếp.

Hôm sau, khi thức dậy, bác đọc kinh sáng. Kế đó, bác nhóm lửa, đặt nồi cháo lên bếp và bắt đầu làm việc. Trong khi đôi tay bận bịu với kim chỉ thì đầu óc của bác cứ bị giấc mơ đêm qua ám ảnh. Bác cứ phân vân không biết đó là mơ hay thực. Dù sao, thỉnh thỏang bác vẫn đưa mắt nhìn qua cửa sổ để xem có ai đến thăm hay không. Bác đã thấy nhiều đôi giày qua lại: một người lính đi ngang, rồi mấy người xác nước, và rồi đến ông lão Hiếu tiến chậm chạp từng bước, tay cầm chổi quét đường. Bác An nghĩ thầm: “Hơi đâu mà ngắm người qua kẻ lại. Thôi, chú ý mà làm việc đi chứ”.

Nhưng khâu được độ mười lăm mũ kim thì bác lại ngẩng đầu lên ngó qua cửa sổ. Ông lão Hiếu không còn quét đường nữa. Ông dựng cây chổi vào tường và đứng thở hổn hển. Bác An tự nhủ: Tội nghiệp ông lão già. Chắc là hết sức rồi. Trời lạnh thế này, hẳn là đôi tay run lắm đây”. Nghĩ thế, bác An liền đến bếp, rót ly trà nóng rồi ghé đến bên cửa sổ mời ông Hiếu: – Mời ông uống ly nước trà cho ấm bụng. Ông lạnh lắm phải không?

– “Chúa ôi, lạnh tới thấu xương”. Ông Hiếu đáp.

Và ông lão lập cập phủi chân, cố gắng gạt bớt lớp tuyết bám ở đôi giày kẻo làm dơ nhà. Nhưng bác An nói : – Ông đừng lo, cứ vào nhà đi. Lát nữa tôi sẽ quét. Ngồi nghỉ một tí đi.

Ông Hiếu bước vào nhà, cầm ly trà nóng hổi, uống một hơi đến hết. Thấy vậy bác An rót tiếp mời : – Bác dùng thêm nữa đi.

Bác An vừa rót nước mời khách, vừa nói chuyện, nhưng cặp mắt vẫn cứ đảo qua cửa sổ. Thấy vậy ông Hiếu hỏi: – Bác đang chờ ai đấy?

– Chờ ai hả? Nói ra thì cảm thấy thẹn. Không biết có nên chờ hay không, nhưng có một tiếng nói cứ văng vẳng bên tai tôi… không rõ là mơ hay thực nữa. Thú thực với ông, số là hôm qua, tôi đọc Phúc âm và thấy Chúa Giêsu khi đến cõi thế này, sinh ra ở Belem nơi hang lừa vì không ai tiếp. Và tôi nghĩ: giả như Ngài tới nhà tôi thì không hiểu tôi sẽ tiếp Ngài thế nào. Nghĩ đi nghĩ lại, tôi thiếp đi lúc nào không biết. Thế rồi bỗng dưng một tiếng nói đánh thức tôi dậy và gọi đích danh tôi: “Này bác An, ngày mai tôi sẽ tới thăm bác”. Tiếng đó còn lặp lại hai lần nữa, và cho đến lúc này vẫn còn ám ảnh tôi.

Ông Hiếu trầm ngâm không nói gì. Bác An rót thêm ly nữa cho khác và nói : – Uống thêm miếng nước nữa cho ấm bụng. Tôi nghĩ rằng Chúa đến trần gian, Ngài không bỏ ai hết. Ngài luôn đến với người nghèo, kẻ khiêm tốn, những người tội lỗi, những người lao động như chúng ta. Ngài đã rửa chân cho các môn đệ, và nói: “Ai là kẻ lớn nhất thì phải phục vụ mọi người”.

Ông Hiếu ngẹn ngào ứa nước mắt. Uống hết ly thứ ba, ông đứng dậy và nói: – Cám ơn lòng tốt của ông đã sưởi ấm cả hồn lẫn xác của tôi.

– Không dám. Tôi rất vui mừng khi có người đến thăm.

Khi ông Hiếu đi rồi, bác An uống nốt phần trà còn lại trong ấm và tiếp tục làm việc. Tay bác xỏ kim kéo thoăn thoắt nhưng mắt thì cứ gắn chặt ở khung cửa sổ, đăm đăm chờ xem chừng nào Chúa đến. Hai người lính đi ngang qua, rồi đến người bán bánh. Lát sau, một thiếu phụ bồng đứa con nhỏ đi ngang qua cửa sổ. Bà đứng nép vào tường, cố che cho đứa bé bồng trên tay khỏi gió, tuy dù trên thân mình chỉ có tấm áo mỏng. Bác An nghe rõ tiếng khóc của đứa bé và lời dỗ dành của bà mẹ. Bác mở cửa nhà và nói : – Này bà, vào đây. Sao đứng ngòai gió lạnh như vậy?

Người thiếu phụ quay lại, thấy một ông già đeo kính ngoắt tay vẫy gọi. Bà bồng con theo ông lão vào nhà. Ông đưa bà xuống hầm, kế bên lò sưởi: – Bà sưởi cho ấm, rồi cho con bú nhé.

Nhưng người mẹ buồn bã nói: – Tôi không còn sữa nữa. Vả lại tôi chưa ăn uống gì.

Bác An lắc đầu ngẫm nghĩ. Bác đi lấy khúc bánh mì và múc một bát cháo đặt lên bàn: – Bà ăn đi. Ðưa cháu đây tôi bế cho. Tôi cũng đã từng có con và biết cả cách giữ trẻ nữa, bà ạ.

Trong khi thiếu phụ ăn nghiến ngấu, bác An bồng đứa bé. Lúc đầu nó cứ khóc mặc dù bác dọa nó với cặp mắt nghiêm nghị. Nhưng khi bác dơ ngón tay đùa với nó thì thằng bé nín bặt và bắt đầu cười giỡn với bác, khiến bác cũng vui lây.

Người đàn bà lạ mặt bắt đầu kể: – Chồng tôi đi lính đã tám tháng nay và tôi không được tin tức gì nữa. Tôi đi làm bếp cho người ta. Nhưng tới khi sinh con thì họ không nhận tôi nữa. Khi tiêu hết những gì đã dành dụm được, tôi xin đi làm vú nuôi, nhưng lại bị chê là quá gầy ốm. Tôi xin một chân bán hàng, người ta hứa sẽ nhận nhưng bảo tôi phải chờ đợi. Ngày nào tôi cũng phải lê lết đi tìm việc làm, khiến tôi kiệt sức.

Bác An thở dài : – Sao trời lạnh thế này mà bà mặc đồ mỏng như vậy?

– Dạ đâu có. Hôm qua tôi đã đi cầm chiếc khăn san cuối cùng với giá hai chục đồng.

Bà ta tới cạnh giường và ẵm lấy đứa bé, toan bước ra cửa. Bác An lục lọi trong rương, lôi ra một áo chòang và trao cho người mẹ: – Bà cầm lấy đi. Tuy không đẹp lắm nhưng sẽ che cho bà đỡ gió.

Bà rụt rè cầm chiếc áo và nói: – Xin Chúa chúc lành cho cụ. Ðúng là Chúa đã đưa cháu tới cửa sổ của cụ. Giả như không có cụ, chắc là mẹ con cháu đã chết cóng rồi. Chúa đã thương và dun dủi để cụ nhìn thấy cháu qua cửa sổ.

Bác An mỉm cười : – Ðúng thế đấy, chính Chúa đã soi sáng cho tôi. Không phải vì lơ đãng mà tôi nhìn ra cửa sổ đâu.

Thế rồi bác An kể lại giấc mơ của mình. Người đàn bà theo dõi câu chuyện cách chăm chú và kết luận :- Mọi sự đều có thể xảy tới, cụ ạ! Thôi, cám ơn cụ rất nhiều.

Bà bồng con ra đi, Bác An dúi vào tay bà tấm giấy 20 đồng để chuộc lại chiếc khăn san. Sau đó, bác An tiếp tục làm việc. Tay làm mà mắt cứ nhìn qua khung cửa sổ. Một bà già đi ngang, tay xách một giỏ táo. Chắc là bà đã bán gần hết rồi. Bà đeo trên lưng một bó củi mà có lẽ bà mót được ở xóm nào gần đây. Ði ngang qua cửa sổ nhà bác An, bà dừng lại, thả bó củi xuống đất để nghỉ ngơi đôi phút và để đổi tay.

Bỗng nhiên một thằng nhỏ không biết từ đâu chạy lại, giật ngay trái táo và định vụt thóat. Không may cho nó, bà lão níu được tay nó. Thằng nhỏ cố vũng vẫy gỡ ra nhưng bà nắm nó thật chặt. Bác An vội bỏ kim chỉ qua một bên, mở cửa chạy ra. Bà lão vẫn còn níu chặt thằng bé, vừa mắng vừa dọa sẽ dẫn ra công an. Thằng nhỏ phân bua : – Ơ hay, cái bà này. Tôi làm gì mà bà đánh tôi.

Bác An can thiệp với bà già: – Tôi xin bà tha cho nó, vì lòng mến Chúa.

– Không có tha với thứ gì hết. Tôi đưa nó tới công an để họ trị nó. Như thế nó mới chừa.

– Thôi mà, bà tha cho nó đi. Nó không dám tái phạm nữa đâu. Tha cho nó đi, nhân danh Chúa.

Bà lão nới tay. Thằng bé toan chạy, nhưng bác An tóm nó lại: – Xin lỗi bà đi, và đừng bao giờ làm như vậy nữa. Ta thấy mi ăn cắp trái táo mà.

Thằng bé òa lên khóc và xin lỗi bà già. Bác An lấy một trái tráo trong giỏ và trao thằng bé. Ông nói với bà: – Tôi sẽ đưa tiền cho bà.

Bà già lẩm bẩm:- Ông chỉ làm hư thằng nhỏ mà thôi. Lũ đó cần phải trừng trị thẳng tay mới được.

– Thôi mà bà. Chúng ta xét đóan như vậy, nhưng Chúa nghĩ khác. Nếu chúng ta thẳng tay trừng trị nó vì đã ăn cắp một trái táo, thì Chúa sẽ trừng trị chúng ta như thế nào vì những tội lỗi của chúng ta?

Bà lão không nói gì. Bác An kể lại cho bà nghe dụ ngôn ông chủ nợ tha cho kẻ thiếu nợ, và sau đó y đã đến giết chết vị ân nhân của mình. Bà ta đứng yên và nghe. Cả thằng nhỏ cũng chăm chú theo dõi nữa. Bác An tiếp: – Chúa đã dạy chúng ta phải tha thứ, nếu không thì Chúa sẽ không tha cho chúng ta. Phải tha thứ cho hết mọi người, nhất là những người không biết việc họ làm.

Bà lão gật đầu: -Ðúng thế, nhưng phải sửa dạy tụi trẻ, bởi vì chúng dễ làm bậy lắm.

– Ðó là bổn phận của chúng ta, phải chỉ vẽ cho chúng thấy điều tốt lành.

– Tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi sinh được bảy đứa con, nhưng chỉ còn một đứa gái còn sống …

Thế là bà bắt đầu kể chuyện con gái bà, nó ngoan như thế nào, nó săn sóc bà ra sao mỗi lần bà đi bán hàng về. Và bà quay lại nhìn thằng nhỏ: – Thôi cháu dại dột. Xin Chúa gìn giữ cháu.

Bà ta đặt bó củi lên vai để đi về nhà. Nhưng thằng nhỏ vội vàng thưa : – Bà để cháu xách cho, cháu cũng về đường này.

Bà già gật đầu, đồng ý cho nó xách giỏ. Hai bà cháu đi song đôi với nhau. Bà ta quên cả việc đòi tiền trái táo. Bác An nhìn họ đi một quãng đường xa, rồi trở vào nhà. Làm việc thêm một chặp nữa thì trời đã tối. Bác đứng lên đốt đèn. Khâu xong chiếc giày, bác thu dọn đồ đạc, và rút quyển Phúc âm ra đọc. Vừa mở sách ra, bác nhớ lại giấc mơ hôm trước. Bác tưởng chừng như có bóng người và có ai kêu bác: – Bác An, bác An, bác không nhận ra tôi ư?

– Ai đấy, bác An hỏi.

– Tôi đây mà. Ông Hiếu từ trong bóng tối bước ra mỉm cười rồi biến đi.

– Cả tôi nữa. Một thiếu phụ bồng con nhỏ tiến tới, mỉm cười rồi biến mất.

– Còn tôi nữa. Một bà già xuất hiện với thằng nhỏ cầm trái táo. Cả hai cùng cười rồi biến đi.

Bác An cảm thấy niềm vui dạt dào trong lòng. Bác làm dấu Thánh giá, đeo cặp kính vào đọc Phúc âm ở trang đã lật: “Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn. Ta khát các ngươi đã cho uống. Ta là người xa lạ, các ngươi đã đón tiếp Ta … Ðiều gì các ngươi làm cho kẻ bé nhỏ nhất của Ta là các người làm cho Ta vậy”.

Bác An hiểu rằng giấc mơ đã không lừa gạt bác. Chính Chúa Cứu thế đã đến với bác ngày hôm nay. Và chính bác đã đón tiếp Ngài./.


Nguồn: https://catechesis.net/10-cau-truyen-giang-sinh-the-gioi/

Được tạo bởi Blogger.