MAI LÂM
Tên thật của ông là Giuse ĐOÀN VĂN THĂNG, sinh ngày 28-04-1915 tại Hoàng Mai, tỉnh Bắc Giang. Mai Lâm đăng thơ trên một số tạp chí đạo đời có tiếng tăm như: Đường sống, Bách Khoa, Phổ Thông, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sống Đạo, Lửa Mến, Liên Lạc vv…
13 giờ ngày 08-11-1992, nhà thơ lão thành Mai Lâm vĩnh biệt trần gian để đặt chân vào đất Hứa trên trời.



Tác Phẩm:
Bảy Thánh Vịnh Thống Hối (1958) - Khúc Ca Lên Đền (thơ dịch,1960) - Truyện Tôbia (Sài Gòn, 1960) - Kinh Nhật Tụng Đức Mẹ(Sài Gòn 1963) - Kẻ Giảng (thơ dịch 1963) - Nhã Ca (thơ dịch 1963) - Thánh Ca Tuyển Tập (Sài Gòn, 1967) - Tân Ước Toàn Tập (bản dịch) - Ngôi Sao Lạ (thơ,1958) - Thánh Vịnh Toàn Tập (1964).

THÁNH VỊNH QUA NGÔN NGỮ VÀ TÂM TÌNH NGƯỜI VIỆT

Lm. NGUYỄN HUY LỊCH O.P.
“Lời mà mình sẽ coi như của mình là lời mình đã nghe thấy trong chính bản thân mình một vang âm”[1]. Tập Thánh Vịnh mà Dân Thiên Chúa bên đất Palestina cách đây ba mươi thế kỷ đã từng nhắc để nói lên niềm tin ở đấng Giavê Chí Thánh; tập Thánh Vịnh mà Giáo hội Chúa Giêsu Cứu Thế từ ngót hai ngàn năm vẫn còn ngày đêm tụng niệm để dâng lên Ba Ngôi lòng cậy trông, triều mến, tập Thánh Vịnh bất diệt này cũng đã gieo trong tâm hồn người tín hữu Đông Phương một xúc động khá mạnh, một vang âm khá lớn, để người tín hữu đó sau nhiều năm suy ngẫm, cảm thấy mình phải chia sẻ cùng đoàn thể cái kho tàng quý báu hàm chứa trong Thánh Kinh. “Vì tin, nên mới nói – Credidi propter quod locutus sum” (Tv 115, 10). Vì đã đọc, đã chiêm ngưỡng, đã thưởng thức, đã thấm nhuần cái tinh túy của Thánh Vịnh, nên ông Mai Lâm – Đoàn Văn Thăng đã dịch ra Việt Văn tất cả 150 bài của tác phẩm linh thiêng.
Dịch giả đã bắt tay vào công trình này với ước vọng mang đến cùng anh em đồng bào lời mà chính Thiên Chúa còn sống trong mong chờ, mong chờ đấng cứu độ. Lời đó đã giáo huấn biết bao thế hệ, thấm nhiễm nơi họ tinh thần tôn giáo, khuyến khích họ sống theo luật thánh. Thánh Vịnh đã nói lên tất cả nỗi niềm, tất cả sắc thái của con người trên đường tìm đến Thiên Chúa. Thánh Vịnh là lời nguyện của tổ tiên ta trong đức tin, đã ngợi khen uy quyền Đức Giavê, đã hoan hô tình yêu thủy chung nơi Ngài, nhưng Thánh Vịnh cũng không quên thuật lại những cố gắng của con người, dù đã tội lỗi, dù đã bao phen bội phản: cố gắng để hối cải, để chuyển hướng, để tiến về cùng đấng Tuyệt đối, để đáp lại lời mời nên thánh. Những lời tha thiết đó, sau khi Chúa Cứu Thế giáng trần, hy sinh, hiến mình trên Thập Giá, lại vẫn còn giá trị vì hơn lúc nào hết, Thánh Vịnh trong nhịp bước của Giáo hội đã thành khúc ca khải hoàn của cả đoàn thể tín hữu khắp năm châu cùng tiến theo Vị đã thắng “Ba Thù” dẫn đưa nhân loại về cùng Thiên Chúa là Vua muôn đời, là Chúa Thanh Bình, là Cha dịu hiền vinh quang vạn thuở.
Ông Mai Lâm đã thực hiện công trình dịch thuật với cả một lòng chân thành sùng kính: qua những ngôn ngữ, tâm tình mà mình lột tả, dịch giả cũng hiểu rằng đó là lời lẽ, là tâm tình Thiên Chúa dun dủi trên môi miệng phàm nhân, để con người được thông công với chính thực tại siêu linh vĩnh cửu. Do đó dịch giả đã thận trọng cố sao cho văn bản trung thành với đường tư tưởng, với cách thức diễn đạt của Kinh Thánh, lại cũng thích hợp với ngôn ngữ mình sử dụng. Công việc thật không phải dễ. Ông Mai Lâm đã góp phần, cái phần thanh cao nhất của ông để dâng lên Chúa lời ca muôn thuở qua âm thanh, nhịp điệu của dân ta.
Trong khi đây đó tâm hồn người Công giáo chớm nở một mong muốn thiết tha, lần về nguồn chánh của Mạc Khải; trong lúc Đệ nhị Công đồng Vatican dưới ánh sáng Ngôi Ba Thánh Thần đồng nhiệt thành tìm đường phát triển đức tin, canh tân nếp sống của Dân Thiên Chúa, thiết tưởng của “giáo dân” để tham dự mật thiết vào đời sống thiêng liêng, vào nhịp cầu nguyện chung là điều đáng mền phục. Hy vọng rằng “giáo dân Việt Nam” ta sẽ mượn lời Thánh Vịnh ông Mai Lâm dịch đây để tung hô Đấng đã dựng nên muôn dân tộc, đã ban cho muôn ngôn ngữ, với biết bao sắc thái riêng tư phong phú, nhưng lại cũng đã đúc kết mọi tâm hồn trong một niềm tin bền bỉ. Thánh Vịnh sẽ nâng đỡ ta trên đường về quê thật, như Thánh Âu Tinh đã thiết tha ao ước.
Con của Thanh Bình, con của một Công giáo hỡi! Người đi vào đường, vừa hát vừa đi!
Khách đi đường làm thế đấy, cho bớt nhọc nhằn. Trên con đường trường, người hát lên đi!
Tôi van nài người, vì đường người đi, người hát lên đi, Trên con đường này, hát khúc Tân Ca! Ai có mặt, chớ có hát những cái ngày xưa,
Người hát những bản Tình Ca của Tổ Quốc người đi! Đừng hát những chuyện cũ làm chi!
Đường mơi, khách đường mới với khúc Tân Ca![2]


TUYỂN THƠ

KẺ LƯU ĐÀY KHẨN NGUYỆN (TV 61)

Hãy nghe tiếng tôi kêu, hỡi Chúa!
Xin lắng tai nghe tỏ lời tôi.
Từ nơi cùng đất cuối trời,
Tôi kêu cầu Chúa rã rời tâm can!

Xin Chúa dẫn bước chân tôi tới.
Tảng đá cao vòi vọi khó lên.
Vì như ngọn tháp vững bền,
Chúa là nơi để náu yên kẻ thù
Ước gì mãi Chúa cho ẩn lánh
Trong trại Người, bóng cánh Người che
Ví lời tôi nguyện Chúa nghe,
Chúa ban cơ nghiệp kẻ e danh Người.
Xin ban vua ngày dài năm thọ
Vững ngai vàng trước Chúa liên liên
Xin sai Đức Tín, Lòng Hiền
Của Thiên Chúa xuống giữ gìn vua yên
Và tôi, lời khấn không quên
Hằng ngày danh Chúa ngợi khen không ngừng.

KHÚC CA LÊN ĐỀN (TV 122)


Vui biết mấy! Từ nghe bạn rủ.
“Nào anh em! Đền Chúa cùng lên..!”
Hỡi thành Giêrútsalem!
Ta dừng chân ngắm cửa tiền giờ đây!
Ôi! Thành Thánh được xây tráng lệ
Đá bền như đoàn thể kết liên!
Các dòng họ Israel,
Là dân con Chúa, cùng lên chốn này
Dòng Giacóp đều hay luật Chúa
Dạy tới đây sùng mộ danh Người
Nơi đây Chúa đã đặt ngôi,
Cho nhà Davit xét coi dân hiền.
Hãy nguyện chúc bình yên thành Thánh
Ai mến thành, yên tỉnh sống vui.
Bình yên cho các lâu đài
Bình yên cho khắp mọi nơi trong thành
Vì nghĩa bạn, vì tình huynh đệ
Ta mong thành bền bỉ an ninh
Vì ngôi đền thánh Chúa mình
Ta cầu hạnh phúc cho thành, thành ơi!
TỪ ĐÁY VỰC (TV 130)
Từ đáy vực chìm trong đêm tối
Cất tiếng kêu tôi gọi tên Người.
Chúa ôi! Xin hãy lắng tai.
Nghe tôi thảm thiết van nài Chúa thương
Chứa hỡi, nếu Chúa hằng chấp tội.
Hỏi ai, người sống nổi được ru?
Nhưng Chúa hằng thứ tha cho,
Khiến người kính sợ lòng từ Chúa tôi.
Tôi trông cậy ở nơi Thiên Chúa.
Đợi lời Người tha thứ cho tôi.
Hồn tôi trông đợi Chúa Trời,
Hơn chờ hửng sáng bao người tuần canh!
Hơn các kẻ tuần hành đợi sáng.
Israel hãy vọng Chúa Trời!
Vì lòng nhân thứ nơi Người
Và ơn cứu chuộc muôn đời vô biên.
Chính Người sẽ chuộc dân riêng,
Cứu tôi thoát khỏi tội khiên muôn vòng,


HỒN TÔI KHAO KHÁT CHÚA (TV 63)

Hỡi Chúa là Chúa Trời tôi,
Tôi trông tìm Chúa ngay hồi sớm mai.
Hồn tôi khát Chúa không nguôi,
Thân tôi mòn mỏi những hoài nhớ mong,
Đất khô kiệt vì không có nước
Như lòng tôi héo hắt, úa tàn
Ước sao cung thánh tới gần,
Xem quyền phép Chúa tỏa làn vinh quang.
Ơn nghĩa Chúa còn hơn sự sống
(Mong lời tôi xưng tụng cho nên)
Hai tay cầu Chúa giơ lên
Danh Người cảm tạ, ngợi khen hằng ngày.
Hồn tôi sẽ tràn đầy vui thỏa,
Như no lòng nước mỡ, tủy xương
Môi tôi chan chứa nỗi mừng
Được ca ngợi Chúa tưng bừng không ngơi.
Trên giường ngủ, canh dài tưởng nhớ,
Tôi gẫm suy, lòng Chúa ân cần
Thương tôi cứu chữa bao lần
Cho nương bóng cánh, muôn phần mừng vui
Tay hữu Chúa nâng tôi vững chắc,
Vì hồn tôi tựa sát bên người
Đất kia nuốt chúng cho rồi
Những phường mưu hại tôi hoài bấy nay!
Gươm kia hãy chém bay lũ đó
Để thịt xương nuôi chó ven rừng!
Trong Chúa, vua sẽ vui mừng
Với ai quen vẫn thề bằng tên vua
Còn phường gian đối giở trò
Sẽ câm miệng hến, hết khua múa xằng

ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH (TV 22)

Chúa là đấng chăn nuôi tôi đó
Còn thiếu chi đồng cỏ xanh tươi
Và dòng suối mát thảnh thơi
Chúa đem tôi đến, cho tôi thỏa hồn
Vì Danh Người chí tôn chí thánh
Chúa dẫn tôi đường chính, nẻo lành
Dẫu khi lũng tối liều mình
Gần ngay sự chết, chẳng kinh nạn gì!
Vì Chúa vẫn ở kề bên cạnh
Có gậy tầy để đánh sói lang
Tay cầm roi để chỉ đàng
Xem roi gậy Chúa, tôi càng vững tâm
Chúa đặt cho đầy mâm mỹ vị
Trước mắt ngay các kẻ thù tôi
Dầu thơm, Chúa xức cho rồi
Chén ngon, Chúa rót không vơi lúc nòa
Ơn huệ Chúa chẳng bao giờ bỏ
Dõi theo tôi suốt cả cuộc đời
Và tôi sẽ ở đền Người
Những ngày tháng, những năm dài, không thôi


LÀ HƯ KHÔNG (TV 48)

Các dân hỡi, lắng nghe ta nhủ
Hỡi các ngươi đương ở thế gian
Người hèn với cả người sang
Kẻ giàu có, kẻ nghèo nàn, hãy nghe
Lòng ta biết, dẫu tuy sáng suốt
Để nói lời chân thật, khôn ngoan
Tai ta biết dõi cung đàn
Lẽ sầu, ý nhiệm, giải bàn như không!
Nhưng người thế có vàng khôn chuộc
Mạng sống kia ở trước Chúa Trời
Linh hồn đắt quá đi thôi
Ai hòng sống mãi trên đời được ru?
Dẫu chẳng muốn vào mồ, đâu thoát
Bậc khôn ngoan nào sót một ai
Thằng điên, đứa ngốc cũng toi
Để tiền của lại cho người khác tiêu
Những nấm mộ có rêu bao phủ
Đấy, ngôi nhà phải ngủ nghìn thu
Dù ai chí lớn, ngôi to
Từng đem danh hiệu đặt cho bao miền
Giàu sang mà ở không nên
Cho người đến chết, vận hèn khác chi


LỜI NGUYỆN LÚC TUỔI GIÀ (TV 70)

Lạy Chúa, tôi ẩn mình nơi Chúa
Đừng để tôi xấu hổ đời đời
Chúa công bình hãy lắng tai
Giải vây, cứu thoát như lời tôi xin
Xin hãy như thành bền, đá vững
Chở che tôi cho đặng an toàn
Chúa là thành đá dung thân
Khỏi tay gian ác, hung tàn, cứu cho!
Tin cậy Chúa ngày từ tuổi trẻ
Và ngay từ lòng mẹ mang thai
Tôi nương tựa ở Chúa rồi
Nên tôi hằng ngợi khen Người liên liên
Họ nhìn tôi như nhìn sự gở
Nhưng Chúa là nơi trú vững vàng
Hàng ngày, tôi vẫn hát vang
Để mừng vinh hiển, cao sang Chúa Trời

Nay, nhiều tuổi, tới thời sức đuối
Xin Chúa đừng chê chối tôi chi!
Kìa bao kẻ nghịch kéo bè
Bàn nhau, chỉ những toan bề hại tôi….

CA NGỢI KHEN CỦA ĐỨC MARIA

(Luca 1,46 – 55)
Linh hồn tôi ngợi khen Thiên Chúa
Tâm thần tôi hớn hở mừng vui
Trong Chúa Cứu Chuộc, vì Ngài
Đoái nhìn phận mọn của tôi tá hèn
Bởi rồi đây, muôn nghìn đời thủa
Sẽ khen tôi, kẻ có phúc lành
Vì đáng quyền phép đã dành
Những điều cao cả tác thành nơi tôi
Danh Ngài Thánh, lòng Ngài thương xót
Khắp muôn dân trải suốt muôn đời
Tràn làn trên hết những ai
Với lòng kính sợ, làm tôi con hiền
Ngài đã tỏ uy quyền, phép tắc
Đã ra tay thẳng phạt kẻ nào
Trong lòng tự đại, tự cao
Chúng đều tan tác, mưu sâu chẳng thành
Ngài đã truất quyền hành vua chúa
Những ngai vàng sụp đổ bao phen
Và Ngài đã cất nhắc lên
Kẻ lòng khiêm nhượng, khó hèn bấy nay
Ngài đã ban cho đầy phúc cả
Kẻ đói lòng hết dạ kêu van
Còn phường giàu của thế gian
Ngài thường đuổi chúng, về bàn tay không
Ngài đã săn sóc dòng dân cũ
Dân Ích Diên, tôi tớ của Ngài
Nhớ lòng thương xót láng lai
Hứa cùng tổ phụ với nòi giống liên

Mai Lâm
(Trích bộ sưu tập Có Một Vườn Thơ Đạo, tập II, Lm Trăng Thập Tự chủ biên tr 47-57)

[1] “La parole qu’on fera sienne est cella don’t on a entendu en soi un écho” (H.Bergson).


[2] Thánh Âu- tinh. Enarr, in psalm 66,6.

Được tạo bởi Blogger.