Cùng với Xuân Ly Băng, Trần Vạn Giã, Bùi Chí Vinh, Trần Mạnh Hảo, Lê Đình Bảng, Mai Văn Phấn..., Trăng Thập Tự là cây bút thơ Công giáo nổi bật của văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Ông tên thật là Gioan Phêrô Võ Tá Khánh, sinh năm 1947 tại Hà Tĩnh, linh mục giáo phận Quy Nhơn từ năm 1975. Hiện ông sống, tu hành và sáng tác tại Quy Nhơn. Trăng bẻ làm đôi có thể gọi là tuyển tập thơ ông, tập hợp thơ ca ông viết từ khi còn là chủng sinh đến nay, ghi dấu chặng đường dài hơn 60 năm sáng tác. Tuyển thơ này ghi thác cuộc đời, tâm linh, cái tôi, các quãng đời, số phận và thái độ của ông trong hành trình 60 năm, từ thời chiến tranh Việt Nam cho tới hôm nay.
Thơ Trăng Thập Tự trước hết là lời nguyện cầu không nguôi. Ông cầu xin được ơn gọi, được giao hòa và đồng hành, được cháy sáng cùng Đấng siêu việt. Ông cầu xin bằng một con tim dạt dào mong cầu và bằng một tấm lòng đã sẵn sàng: Ôi Thiên chúa, chính ngài là lửa / Xin thiêu đốt con và biến đổi con (Phút lặng thinh). Ông còn cầu xin được hiến dâng, được thanh tẩy. Cái tôi nhà thơ (individu) đã là cái tôi thánh thiện. Được “đốt cháy” là để được phục vụ tha nhân, cộng đồng, không phải cho mình. Trùng điệp trong thơ ông là “lời xin”, “tiếng gọi”... Ông nhiều lần gọi “Chúa ơi”: + Chúa ơi nước mắt lạnh hoàng hôn (Niềm Chúa nhật) + Chúa ơi bây giờ thánh đường buồn quá (Kinh nửa đêm). Thơ ông mang đặc sắc Công giáo. Các hình ảnh tràn đầy trong thơ là lời kinh nguyện, thánh đường, tu viện, tiếng chuông nhà thờ, mùa xuân Kinh Thánh. Chúng không chỉ là hình ảnh, mà còn là biểu tượng của đức tin, sự thánh thiện, niềm yêu mến. Trăng Thập Tự trong những dòng thơ nguyện cầu, ngoài lời nguyện xin được phục vụ cuộc đời, còn có lời cầu cho quê hương. Thật lạ lùng, khác quá xa thế tục, ông không cầu lợi danh, tài sản. Đời ông - đời linh mục, chẳng có gì, ngoài tình yêu dành cho con người và cho Chúa! Ở đây, tư tưởng thơ ông không khác gì tư tưởng thơ của các nhà thơ Việt Nam trung đại chịu ảnh hưởng Lão - Trang, coi của cải, lợi danh là phù phiếm. Hình ảnh và chủ đề lớn trong thơ ông là mẹ Maria. Bà vừa là mẹ Hội Thánh, vừa là Đức Mẹ Việt Nam. Đây cũng là đấng ông cầu bầu, giãi bày, tâm sự, cảm tạ, thương cảm, yêu quý trong những bài thơ dìu dặt, hay nhất, tràn đầy cảm xúc: - Đêm tăm đêm tối mịt mùng / Cơn mưa ướt đất, con trùn thở than / Mẹ quê khơi bếp tro tàn / Gió lùa phên cửa, hòn than ửng hồng / Mẹ quê ngước mắt ấm lòng / Lắng nghe hạt lúa nhớ đồng vỡ da / Tháng Năm nứt ruộng đầy nhà / Tháng Sáu đi cấy mới là hè thu (Mẹ quê).
- Giã biệt nỗi buồn ngày quá khóa / Con về tháng Chín dệt tình yêu / Theo Mẹ một lòng mến thánh giá / Cho đời thành của lễ tình yêu (Hoa tháng Chín).
Thơ Trăng Thập Tự chịu nhiều ảnh hưởng. Ông có lẽ đã tiếp nhận Truyện Kiều ở khía cạnh thương cảm của nó. Ông rung động trước mối tình thiên cổ trong Truyện Kiều, cũng bằng những dòng lục bát thấu hiểu và mừng vui: Mười lăm năm vết xe lăn / Không nguôi cầm sắt, không ngăn cầm kỳ / Mười lăm năm ấy nói gì? - Mười lăm năm lại hái quỳ tặng nhau (Mười lăm năm ấy). Ông thương mối tình Kim - Kiều: Tìm nhau mãi đến bao giờ / Một cơn mê lộ, mấy bờ phù sinh (Lạc nhau). Tuy vậy, ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử là quan trọng. Ông có một bài thơ cảm đề kịch thơ Quần tiên hội của Hàn Mặc Tử, có tên là Cô tiên khúc. Trăng Thập Tự cũng say trăng, đắm đuối với trăng như Hàn thi sĩ (Đêm trăng sáng). Trăng là biểu tượng của sự quyến rũ trần thế, trần gian, ỡm ờ. Nhưng trăng đối với Trăng Thập Tự thanh bạch, thanh khiết, là “trăng tu viện”. Nhà thơ van xin trăng hãy để ông “cầu nguyện ăn năn”. Như Hàn thi sĩ, ông say trăng là say với sự uyên nguyên, thanh sạch của nó (Âm thầm). Ở Trăng Thập Tự, trăng còn là biểu trưng của cái đẹp vô nhiễm, như hồn kẻ chân tu. Trăng Thập Tự bắt đầu sáng tác từ đầu thập niên 1960, là thời kỳ thơ Mới còn ảnh hưởng rộng trong văn học miền Nam, dù tạp chí Sáng Tạo và thơ Thanh Tâm Tuyền đã xuất hiện. Thơ Mới và thơ Hàn Mặc Tử còn có ảnh hưởng đến thơ Trăng Thập Tự ở thể thơ (7, 8 chữ), nhịp thơ, khí thơ và ngôn ngữ. Tuy vậy, ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với thơ Trăng Thập Tự là từ Kinh Thánh (Bible). Hệ quả của ảnh hưởng này làm nên đặc thù riêng cho thơ ông, nói rằng, ông là nhà thơ Công giáo. Ông mượn ý các sách Cựu Ước (Old Testament) như sách Rút, sách Hôse, sách Khải Huyền, như thấy trong các bài thơ Rút, Chung thủy, Hơn... Thấy phong phú hơn cả là ảnh hưởng từ Tân Ước (New Testament). Ở đây, ông cũng mượn ý, mượn lời (Thưa bà, Đây là con bà, Thiên sứ, Bản tin Emmaus...). Các vay mượn như thế là khá nhiều, làm đậm đặc chất Kinh Thánh. Ngoài mượn ý, thì các điển tích, điển cố, các sự kiện Kinh Thánh cũng hiện diện nhiều. Tuy vậy, ông không diễn Nôm, diễn giải chúng mà chúng chỉ là nguồn cảm hứng để ông tự tình, bộc bạch cảm xúc, ở đây là tình yêu dạt dào cho Chúa Giêsu và các tông đồ và đặc biệt là cho các nhân vật bình dị được Kinh Thánh nói đến. Kinh Thánh đã trở thành nguồn thơ, nguồn cảm xúc cho thi sĩ.
Ông rung cảm, nghẹn ngào, yêu mến, đồng cảm với các chuyện kể ở đó. Ông vay mượn Kinh Thánh để kể chuyện, tự sự, sáng tạo và hư cấu mà không hề bóp méo Kinh Thánh. Mt (27, 32) kể: “Đang đi ra, thì chúng gặp một người Ky-rê-nê, tên là Simon, chúng bắt ông vác thập giá của Người” (Mathêu đang kể về việc Chúa Giêsu đang bị quân dữ giải đi đến đồi Calvaire để hành hình Ngài). Trăng Thập Tự mượn ý câu này để viết một bài thơ dài, tự sự, kể chuyện. Đó là bài thơ Simon Kyrênê. Simon với ông là người nông phu, đang gieo hạt và hát ca, với thời gian cụ thể là vào buổi sáng, có đám đông hỗn tạp đi theo sau thập giá. Simon còn được ông nói là người yêu mến, đồng cảm sâu sắc với Chúa Kitô. Có thể gặp khá nhiều hình thức tá ý / vay mượn và hư cấu như thể trong tuyển thơ. Vườn Ghetsêmani trong Kinh Thánh cũng là một biểu tượng ám ảnh. Trăng Thập Tự viết nhiều bài thơ về vườn này. Nó biểu trưng cho nguyện cầu và canh thức, đặc biệt là trước lúc lâm chung của Chúa Kitô và mọi Kitô hữu nói chung.
Như đã nói, Trăng Thập Tự đã sáng tác khi còn chiến tranh Việt Nam. Là Kitô hữu, là công dân, ông không thể không bày tỏ thái độ với cuộc chiến điêu tàn trên quê hương ông. Trước chiến tranh bạo tàn, ông nguyện cầu cho quê hương, ông muốn làm con chim “ngậm lá hòa bình”. Ông day dứt bởi chiến tranh mãi dẳng dai trên quê hương (Đứa cháu ma sơ). Chiến tranh đối với ông, là “đày đọa”, “tang thương”, “mất mát”, chết chóc. Ông như bất lực trước cuộc chiến: Chỉ còn đây bụi biểu tình thành phố / Xe nhà binh tin chiến sự truyền thanh / Và hôm trước về tờ điện tín màu xanh / Ba của Tuấn đã chết ở chiến trường Quảng Ngãi / Lạy Thượng Đế đó mùa hè tê tái / Biết cầu nguyện thế nào / Đất nước còn tang thương (Ra khỏi trường bên bờ biểu ngữ) (1966). Chiến tranh, đối với ông, còn là nước mắt, tủi hờn, u hận: Chiến tranh dài thành tiếng khóc Tha La (Con đến đây). Ông cầu nguyện cho quê hương, cho hòa bình vãn hồi. “Để Việt Nam chúng con thôi buồn tủi” (Salva Regina chào Nữ Vương). Trăng Thập Tự yêu quê hương không chỉ với tư cách một người con đất Việt, ông còn, trước hết, yêu quê hương như một Kitô hữu (Bài hát tình yêu, Thông điệp Luther King, Điểm tựa của tôi(2), Tôi vẫn đợi...). Từ tâm thế đó, ông khẩn khoản cầu xin: Xin ôm đất nước vào lòng / Ru cho yên giấc Lạc Hồng Chúa ơi / Bởi đau thương quá lắm rồi / Ngàn xưa chinh chiến tơi bời đến nay (Ru đau - 1969). Người Công giáo là những người yêu nước, như tinh thần Kinh Thánh. Hồi thế kỷ XVII, Lữ Y Đoan trong truyện Nôm Sấm truyền ca, một truyện Nôm có văn bản nguồn là Kinh Thánh, đã đề xuất một quy tắc quan trọng là Kính Chúa + Tam cương ngũ thường. Điều này có nghĩa là vua / vương quyền, biểu tượng của quốc gia được tôn kính. Nguyễn Trường Tộ, Đặng Đức Tuấn... là những người Công giáo chí trung, Kính Chúa, yêu nước. Hà cớ gì buộc người Công giáo bước qua thánh giá!. Trăng Thập Tự u uẩn: Mẹ ơi, cứ chiến tranh hoài thì còn gì là đất nước, nếu chúng con chết hết còn ai nói tiếng Việt Nam (Về bài kinh ở nhà thờ). Trong nhiều bài thơ viết hồi còn chiến tranh và sau này, hình ảnh “quê hương”, “giống nòi”, “Việt Nam, “Lạc Long Quân”, “Âu Cơ”... trở đi trở lại.
Đến Tây Bắc, nơi có thánh địa Hoàng Liên, ông xúc động nhớ tổ tiên và huyền thoại của người Việt: Con về thánh địa Hoàng Liên / Đi qua Vĩnh Phú, thương Tiên nhớ Rồng / Cha xuôi về biển xuống đồng / Mẹ men ngược nước sông Hồng lên non (Đức Mẹ Việt Bắc). Trong một bài thơ khác, nhà thơ kêu gọi: Hãy yêu quê mẹ, mến đồng bào (Bên cha). Người Công giáo như ông yêu chuộng hòa bình, phản đối chiến tranh, phẫn nộ với cái ác (Le Mal) muốn giải quyết các vấn đề một cách khoan dung, dựa trên công lý. Lời thơ của Trăng Thập Tự, như thế, có tính đại diện. Thời chiến tranh Việt Nam, các hoạt động phản chiến của giới Công giáo diễn ra mạnh mẽ, nổi bật có tạp chí Đối diện và Phong trào Thanh Lao Công.
Trăng Thập Tự di chuyển khắp nơi, từ Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, cho đến Philippines nhưng không nơi nào ông lưu lại được lâu. Đó là điều lạ đối với một linh mục. Tuy nhiên âu đó cũng là ý Chúa. Vì thế, ông không u uất, bi hận. Ông xem đời mình, số phận mình là do Thượng Đế lập trình. Ở đâu ông cũng tu trì và nhất là sáng tạo thơ ca. Thơ ca với ông, trên những chặng đường đời, đường tu, có lẽ, vừa là phương tiện, vừa là niềm an ủi lớn. Tuyển thơ đang được nói đến của ông, có một phần được gọi là “Lưu đày ở quê nhà”. Ông nói: Nếu phải lưu đày là số kiếp / Cho tình cố quận nát tim ta (Trở lại Đà Lạt). Ông cũng thường nói, ông có “kiếp lữ hành” (Mau đi em), “ở giữa quê nhà làm khách lạ” (Giấc ngủ Êlia). Trong lúc đó, ông khát khao được “làm thợ gặt” (Trên cánh đồng hợp tác). “Lưu đày” dù là số phận nhưng ông vẫn băn khoăn: Ngài hẹn làm sao hẹn khắp nơi (Quỳ hoa). Lòng ông không khỏi u buồn, trăn trở: Ai đem con đến lưu đày / Nhớ nhà những đếm từng ngày mẹ ơi! (Thiếu phụ hoa vàng). Ông vẫn chờ đợi, dù bẽ bàng: Cầu trời một chuyến đò ngang / Mà sao đợi đến bẽ bàng ngàn năm (Thiếu phụ hoa vàng).
Về mặt hình thức, Trăng Thập Tự có những tìm tòi. Thời kỳ
Thời kỳ đầu, ông sử dụng chủ yếu thể thơ phổ biến của thơ Mới là thơ 7, 8 chữ. Về sau, khi tính triết luận dâng cao và cần diễn đạt sự suy nghiêm già dặn, ngoài lục bát và thơ 5 chữ, Trăng Thập Tự sử dụng nhiều thể thơ tự do (poème en prose / prose poetry), với những câu thơ dài, có khi đến gần 20 âm tiết còn bài thơ cũng dài / trường thiên. Thơ tự do giúp ông biểu đạt được các suy tư, chủ yếu là về Kinh Thánh, thần học, cuộc đời, về lòng xót thương, tha thứ... Trăng Thập Tự có khi còn thử nghiệm các thể thơ. Ông có sáng tác bằng thể thơ 2 âm tiết / tiếng, là thể thơ rất khó viết, hầu như không có ai viết. Đây là bài thơ hay, có nhạc điệu, âm vận dạt dào. Đó là bài Đêm Nadaret. Bài thơ Cha (1 âm tiết) có nhiều câu thơ chỉ có 1 hoặc 2 âm tiết / tiếng. Có những bài thơ được dựng trên cấu trúc đối thoại (dialogue), với cách ngắt nhịp như khi nói, có các câu thơ như câu thoại (Đối thoại với người chăn chiên, Chúa đó...)
Cũng như văn học Phật giáo, văn học Công giáo là một bộ phận của văn học dân tộc. Bộ phận này có lịch sử hàng thế kỷ, với các thể loại như tuồng, thơ ca, du ký, sách thánh... Các tác giả khởi đầu cho văn học hiện đại Việt Nam đều là người Công giáo, tác phẩm của họ mang màu sắc, cảm hứng, chủ đề Công giáo. Thơ ca Công giáo, đến lượt nó, là một hợp phần quan trọng của văn học Công giáo Việt Nam. Thơ Trăng Thập Tự đóng góp cho thơ ca Công giáo, với thi pháp riêng, vừa là thi ca, như một loại thể, vừa mang các đặc sắc của một tôn giáo của dân tộc.
(Đọc Trăng bẻ làm đôi, Thơ Trăng Thập Tự,
NXB Đồng Nai, 2024)
【Tác giả: Trần Ngọc Hồ Trường】
Hành trình Thánh giá - Tác giả: Trần Ngọc Hồ Trường
21.01.2026

