
Bài giảng trong thánh lễ an táng thầy Stéphanô Nuyễn Khắc Dương
của Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA.
"Hành giả dừng chân tạm vỉa hè,
Tấm thân đất chở với trời che.
Cảm người bươn chải vòng cơm áo,
Thương người bôn ba nhịp ngựa xe.
Trần sắc mười phương đau đớn thấy,
Thế âm bốn cõi xót xa nghe.
Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể,
Nguyện lót chân êm khách vỉa hè."
Công tội trông nhờ cây khổ giá,
Vui buồn ký thác chuỗi Mân Côi"
Đọc những vần thơ trên, ta có cảm giác mình bước từ triêt lý Trung Hoa sang triết lý nhà Phật và cuối cùng là triết lý Ki-tô giáo. Từ " tấm thân đất chở với trời che", ta nghe vọng về triết lý vũ trụ quen thuộc "cha trời-mẹ đất", trời cho mưa xuống và đất nảy mầm, con người như một hữu thể hình thành từ tương tác âm-dương. Qua "nhịp nghựa xe", "trần sắc mười phương đau đớn thấy", "thế âm bốn cõi xót xa nghe" hình như là tiếng ai oán đau lòng của nhà Phật, nơi vẫn quan niệm "đời là bể khổ". Sang "cát bụi hoàn nguyên thể, nguyện lót chân êm khách vỉa hè", ta nhớ về mầu nhiệm sáng tạo từ bùn đất trong Sáng Thế Ký - "hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro và mai ngày sẽ trở về tro bụi" và ý nghĩa dấn thân một cách vô vị lợi của kiếp nhân sinh nơi Ki-tô giáo "nguyện lót chân êm khách vỉa hè", để rồi tìm được sự cứu độ nơi "cây khổ giá", qua sự chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria, mà sau này thầy diễn tả một cách rõ ràng hơn trong bài thơ "Ave Maria":
"Ave Maria, Mẹ là chiếc mâm vàng đôi đũa ngọc,
con là rau hèn cỏ mọn tiến dâng lên,
và cỏ mọn rau hèn nên đẹp mắt,
Đấng muôn trùng khấng nhận đời con".
Cộng đoàn Phụng vụ thân mến,
Người đang nằm giữa chúng ta trong những giây phút ly biệt này được nhiều người yêu mến và kính trọng từ đáy lòng. Người thì gọi thầy là nhà tư tưởng, triết gia, thậm chí là thần học gia. Người khác lại cho rằng thầy là một thầy giáo uyên thâm với những suy tư độc đáo. Những ai quan tâm đến hội nhập văn hóa thì lại nhìn nơi thầy như là sự kết tinh, hội tụ độc đáo của tư tưởng Đông-Tây, lương duyên tuyệt đẹp giữa tinh hoa của văn hóa như là hoa trái của hạt giống Ngôi Lời và Đức tin Ki-tô giáo. Những ai quan tâm đến đời sống tu trì thì xem thầy là bậc chân tu, dù thầy không còn khác lên mình áo cà-sa hay tà áo dòng.
Nhưng đối với Thầy Stéphanô Nguyễn Khắc Dương, Thầy tự ví mình như một hành giả, một kẻ truy tìm chân lý của đời mình và cho đời mình. Và rồi, nhờ hồng ân Thiên Chúa, Thầy đã gặp được được Đấng Thầy mong đợi. Tuy nhiên, để đến với chân lý này, Thầy đã phải chấp nhận những cuộc "tử đạo" trong đời thường. Bài đọc thứ nhất trích sách Tông Đồ Công Vụ kể về cách thức Stépano, vị thánh bổn mạng của Thầy, chịu tử đạo. Người thầy yêu quý của chúng ta không bị những hòn đá vật lý ném vào thân thể vốn luôn gầy gò, phải bị điệu ra khỏi thành Gierusalem; nhưng để chọn lựa Đức Ki-tô, trái tim của Thầy có lẽ cũng có lúc đã rướm máu. Như chúng ta đã biết, sinh ra trong một gia đình Nho Giáo nên từ nhỏ, thầy Khắc Dương không mấy thiện cảm với Kitô giáo, thậm chí là khinh thường đạo này. Tuy nhiên, vì thi trượt vào trường Quốc Học ở Huế, nên Thầy vào học trường Thiên Hữu, nơi thầy đã có cơ hội tìm hiểu về Đạo và lãnh nhận bí tích Rửa tội ngày 9 tháng giêng năm 1949, tại nhà thờ Nghĩa Yên, Giáo phận Vinh và nay là Hà Tĩnh. Việc trở thành người Kitô hữu của thầy đã gặp sự chống đối rất lớn từ gia đình và dòng họ, nhất là mẹ của thầy. Bà mẹ chất vấn thầy rằng: "Ông bà tổ tiên của mày có tội gì, mà mày phải cúi đầu cho người ta rửa tội nguyên tổ?, Tội của mày là tội bất hiếu, tội này có cạo hết tóc trên đầu cũng không sạch được, vậy chỉ một chút nước trên đầu thì sao mà rửa sạch được chứ". Cứ đặt chúng ta vào hoàn cảnh của thầy, một người hết lòng yêu mẹ mới hiểu được nỗi đau của thầy. Chính thầy cũng biết rằng mẹ hết mực yêu mình. Tình yêu của người mẹ đã làm cho bà có lúc cũng tự vấn: "Biết đâu địa ngục, thiên đường là đâu?". Cũng như Đức Giê-su, thầy đã chọn cách "băng qua giữa họ mà đi". Băng qua những dị nghị, băng qua những tập tục, băng qua triết lý Nhà Nho mà cả gia đình đang theo đuổi để đến với Đức Ki-tô. Thầy không dừng lại ở việc vào Đạo, nhưng hành giả của chúng ta đã chọn con đường triệt để qua ba lời khấn vâng lời, khó nghèo và khiết tịnh như Đức Ki-tô, đã sống qua các dòng tu như Phan-xi-cô, Biển Đức và Carmel.

Ai cũng biết về "niềm vui tu trì" theo cách nói của Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô, nhưng ai cũng hiểu đi tu là một cuộc tử đạo thường nhật, nếu người ta sống đúng căn tính tu trì: nhân đức sạch sẽ như lưỡi gươm đâm vào con tim vì trái tim máu thịt vốn luôn muốn yêu và được yêu, nó đâm thẳng vào thịt da khi thân xác nổi loạn với những ước muốn của xác thịt vốn được tạo thành như thế; nhân đức vâng lời như mũ gai đội lên đầu vì con người luôn muốn ngẩng cao đầu với khuynh hướng muốn tự chủ tuyệt đối; nhân đức khó nghèo như giấm chua được đưa lên thập giá vì bản chất con người muốn sở hữu những gì cần thiết cho mình.
Với một con người suy nghĩ chẳng giống ai, luôn đi ra ngoài những mô phạm suy tư truyền thống, một hành giả thích lang thang trên dòng đời thì chắc chắn những kỷ luật của dòng tu là những viên đá không dễ dàng đón nhận. Và mỗi lần chọn lựa "ra hay vào" là một lần trái tim rướm máu. Việc theo Stéphano sống đời tử đạo lớn nhất có lẽ là sau biến cố 1975. Một giáo sư danh tiếng về triết học, văn học của Đà Lạt và Sài gòn từ nay được những người tự mệnh danh là "đỉnh cao của trí tuệ" cho đi "cải tạo". Hơn bao giờ hết, con người này cảm thấy đói và rét. Một người theo thích ăn phô-ma với bánh mì nóng cùng chút rượu vang đỏ từ nay bị dạ dày kêu gào. Hơn bao giờ hết, chính giai đoạn này, giai đoạn cho thầy hiểu thế nào là mầu nhiệm Thập giá đã cắm vào kiếp nhân sinh. Lâu nay, thầy rao giảng về thập giá, nhưng lúc này, thầy mới thật sự sống mầu nhiệm thập giá. Đặc biệt, nơi đây thầy thật sự theo Đức Ki-tô và Stêphanô, không một chút oán thù: "Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng lầm chẳng biết".
Những ai đã gặp thầy trong giai đoạn này thực sự cảm mến cung cách của hành giả Khắc Dương, một môn đệ của Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Hôm nay suy tư về điều này, ta mới thấy rõ Thập giá đã nở hoa. Chính nơi vùng đất Bình Thuận mà thầy bị tù đày, thì cũng chính mảnh đất này đã ôm ấp thầy những năm tháng cuối đời nhờ sự chăm sóc tận tình của anh em Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô Tôi Tớ. Và mảnh đất cải tạo ngày xưa, nay đã mở ra đón nhận thân xác của thầy. Nếu đường đi của hành giả thật lắm chông gai, thì con đường ân sủng quan phòng luôn diệu kì gấp bội.
Con đường hành giả đi không chỉ về mặt địa lý, từ miền quê Hương Sơn tới Đức Thọ rồi ra thành phố Vinh; Từ Vinh của miền Bắc vào Nha Trang của miền Nam, thời đất nước còn chia cắt; từ Đông rồi sang Tây, từ miền quê đến kinh thành Ánh sáng, nhưng là con đường rong ruổi chọn lựa. Chính thầy đã có lần lý giải về việc "bỏ" gia đình để theo Đạo: Nho Giáo là một tôn giáo dành cho người tri thức, sống thanh cao và sống 'trên' người khác; không dành cho người bình dân. Phật Giáo thì quan niệm rằng: 'đời là bể khổ, nên phải tránh đời, tự bản thân tìm sự giải thoát cho riêng mình'. Còn Kitô giáo thì ngược lại, Chúa Giêsu vốn là Con Thiên Chúa nhưng đã bước vào đời, sống như một người nghèo, chia sẻ thân phận làm người của con người, vui niềm vui của con người, đau nỗi đau của phận người và yêu con người một cách say đắm đến nỗi sẵn sàng chết vì yêu con người... Đây là một tôn giáo gần với con người, gắn liền với con người, là đạo của tình yêu... Ki-tô giáo không phải là "thuốc phiện ru ngủ con người" như ai đó từng nói. Việc tin vào Thiên Chúa Tạo Dựng đã thúc đẩy con người tiếp tục sáng tạo để làm cho thế giới này đẹp hơn; biến cố Đức Ki-tô nhập thể trong xác phàm làm cho con người tôn trọng thân xác, sống trọn vẹn kiếp người hơn; biến cố Phục sinh trong thân xác mở ra một hy vọng cho vĩnh cửu rằng sự sống chiến thắng sự chết. Khi Stêphanô nhìn lên trời cao, ngài đã nhìn thấy Đức Ki-tô đứng bên hữu Thiên Chúa. Đây là một quan niệm hoàn toàn mới mẻ của Ki-tô giáo. Thông thường, ở các triều đình, vua chúa và các quan lại thường ngồi để xét xử; nhưng Đức Ki-tô đã đứng, đứng như người chủ sẵn sàng thắt lưng để hầu hạ. Thiên Chúa của chúng ta đứng, đứng để đón nhận, đứng để phục vụ con người và hôm nay, Ngài đứng để đón Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.
Để đi đến cửa trời, hành giả thân yêu của chúng ta đã theo một Đức Ki-tô không có nơi gối đầu như những môn đệ đầu tiên mà bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đã kể lại: "Chim có tổ, chồn có hang, còn Con Người không có nơi gối đầu". Quả thực, Đấng Sáng tạo muôn loài đã chấp nhận lệ thuộc. Đấng Tòan Năng đã nằm bất động cho thụ tạo đóng đinh. Trên Thập giá, Đức Giê-su đã không có nơi tựa đầu. Ngài gục đầu trao ban Thần khí; hay nói đúng hơn, Ngài tựa đầu vào cung lòng của Chúa Cha: "Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha". Một nghĩa nào đó, người thầy đáng kính của chúng ta cũng không có nơi gối đầu. Thầy không có nhà cao cửa rộng. Với bộ quần áo nâu giản dị, thầy lang thang đây đó. Hai nơi tạm trú dài nhất là Tu Hội Bác Ái Bình Triệu và Tu Đoàn Bác Ái Chúa Ki-tô tôi tớ. Nhà tạm của thầy là trái tim của những học trò, nhà vĩnh hằng của thầy là cung lòng Thiên Chúa.
Khi thời cuộc không cho phép, thầy đi dạy các nhóm tu chui. Thầy đến rồi thầy lại đi. Góc xó nào thầy cũng ngủ được. Thầy như là người cha. Nhiều khi giữ luôn vai trò người mẹ. Điều xem ra nghịch lý là thầy không có nơi gối đầu, nhưng thầy lại là một nhip cầu tìm nơi gối đầu cho người khác. Ai cô đơn thầy nâng đỡ; ai thất tình thầy ủi an; ai túng thiếu thầy cho ít tiền; ai học giỏi thầy cho cuốn sách; ai thất nghiệp thầy giới thiệu việc làm, ai muốn tu trì thầy gửi gắm một nhà dòng phù hợp.
Có lẽ việc không có nơi gối đầu đã giúp thầy thanh thoát, nhẹ bước ra đi đây đó theo chân Đức Ki-tô. Con người này không còn đóng khung trong tu viện để gặp Thiên Chúa nơi mỗi người và mọi người, "giữa chợ đời trưa sớm" như cách viết của thầy. Hành giả này không còn theo chuẩn mực giờ kinh phụng vụ, để có thể gặp Chúa mọi lúc, mọi nơi, vào giờ ta không ngờ, vào nơi ta không nghĩ. Vì thế, khi ta hẹn gặp thầy ở một nhà thờ nào hay một nhà dòng nào thì ta thường thấy thầy đến trước và quỳ ở một góc nguyện đường với tràng hạt trong tay.
Dù dấn thân như Thiên Chúa đã dấn thân trong lịch sử nhân loại để làm cho thế giới này linh thiêng và nhân bản và đáng sống hơn theo kiểu "nguyện lót chân êm khách vỉa hè", nhưng hành giả của chúng ta tin vào sức mạnh của ân sủng, của Thập giá. Với thầy, tự độ là điều bất khả thể. Khi một con bò rơi xuống giếng, cần phải có ai đó đưa nó lên. Ngay cả sự khôn ngoan của con người, vốn là ân huệ của Thiên Chúa sáng tạo, cũng có thể lệch lạc vì nó bị chi phối bởi nguyên tội cũng như sự hữu hạn của con người. Vì thế phải cần đến Mặc khải Thần linh, cần đến cây Thập tự. Chỉ có máu của Con chiên vẹn sạch mới xóa tội trần gian. Chỉ có Đấng từ trời xuống mới đưa con người từ đất lên trời. Chỉ có Đấng vô hạn mới kéo con người ra khỏi hữu hạn. Chỉ có Đấng vĩnh hằng mới bảo tồn sự sống. Chỉ có Đấng hằng sống mới cho con người được mãi mãi trường tốn. Chỉ có Đấng sống lại trong bản thể người mới cho thân xác con người được phục sinh từ cõi chết. Với thầy, sự dữ đã thực sự đi vào thế gian với muôn màu sắc thái, ví như đam mê tiền bạc thì ghê gớm, nhưng tình yêu của Thiên Chúa lớn lao vô tận. Ở đây ta cũng bắt gặp nghịch lý nội tại nơi con người của thầy. Thầy từ bỏ vật chất và thầy xem "tiền bạc là thánh thể của ma quỷ", nhưng thầy lại hôn lên tờ dollar, nếu ai đó biếu thầy đồng bạc xanh. Phải kể đến một vài yếu đuối như thế để nói rằng hành giả của chúng ta vẫn rất người. Có lẽ cũng chính điều này mà thầy rất say mê câu nói của Charles Péguy: "Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng nên con từ bùn đất, xin Ngài đừng mỉm cười khi con sa chút bụi trần"!
Hôm nay chúng ta trả "cát bụi về nguyên thể", để "lót chân êm khách vỉa hè", đồng thời trả hồn thiêng về với vòng tay của Đấng Từ Bi đúng vào ngày lễ thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su - một vị thánh mà thầy yêu quý. Xin Chúa ẵm Thầy vào lòng. Xin Cha cho hành giả lang thang tìm Cha trên cõi đời được gặp lại Cha. Xin cho người không có nơi gối đầu này được tựa vào lòng Cha, bây giờ và mãi mãi muôn đời; nhờ lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, như thầy đã viết:
Trái tim Mẹ là nguyện đường mầu nhiệm,
Nơi hồn con chiêm ngưỡng Chúa Tình Yêu".
Lễ kính Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su,
【Linh mục Fx. Nguyễn Tiến Dưng, AA】
NGUỒN:
