Khúc Bi ca khắc trong đá - Tác giả: Maria Fiat Diệu Huyền

Xuân Tân Phong
khuc-bi-ca-khac-trong-da-tac-gia-maria-fiat-dieu-huyen-mtg-vinh NGUỒN:


KHÚC BI CA KHẮC TRONG ĐÁ

Tiếng gió thôi hết rít.

Cơn bão số bảy vừa dứt khỏi làng. Ở cái vùng eo thắt này, bão không còn là hiện tượng. Nó hiện hữu. Người ta sống với nó như sống với một định mệnh. May mà lần này bão còn nương tay. Không mạng sống nào bị nó cướp đi. Chỉ mấy miếng tôn bay, vài hàng chuối ngã rạp, mấy bờ ao bị vỡ.

Chị Vân ngó quanh, rồi lặng lẽ ra vườn. Nước vẫn còn đục ngầu. Chị lội qua vũng lầy để nhặt lại mấy tấm tôn bị gió quật dạt ra sau hè. Tay chị trầy, máu rịn ra một vệt nhưng không kêu một tiếng.

Nhà vắng đàn ông, cái gì cũng tới tay. Hồi chồng chị còn ở nhà, dù nghèo, chị còn biết có người đàn ông để dựa lưng. Anh Hậu thương vợ con, lầm lũi làm thuê và gánh vác mọi việc nặng nhẹ trong nhà. Cả gia đình sống bằng tiền phụ hồ của anh và vài đồng may vá lặt vặt của chị. Nhưng cái nghèo cứ như đinh gỉ đóng chặt vào cuộc đời của họ. Thế rồi, anh quyết vay tiền đi xuất khẩu lao động ở Đài Loan. Gần ba năm trôi qua, anh vẫn gửi tiền đều đặn. Chị trả được vài món nợ, sửa lại mái nhà, lo lắng cho con ăn học. Nhà bớt khốn khó hơn chút, nhưng bọn trẻ thiếu tình cha. Chị hiểu, tụi nhỏ nhớ ba trong cái nhớ thơ dại của con nít, chưa đủ để gọi thành nỗi buồn, nhưng tim non đã biết trống vắng.

Chị Vân vừa bắc nồi cơm thì bác Lâm từ ngoài ngõ bước vào, tay xách theo rổ cá rô phi với mớ tép còn nhảy. Bác cười cười, đặt rổ xuống mé bếp:
- Mới cất vó xong, dành phần cho mấy mẹ con bây đó.

Bác Lâm thương cảnh nhà chị vắng đàn ông, mẹ con rau cháo qua ngày. Hễ có được gì, bác đều nhớ mang qua. Chị vừa cảm ơn bác thì điện thoại vang lên. Bác Lâm nhoẻn miệng:
- Ba bọn trẻ gọi về phải không? Chắc hỏi tình hình bão lụt. Cho bác gửi lời hỏi thăm nó nha.

Nói rồi, bác Lâm quay lưng ra về, dáng lom khom khuất dần sau hàng rào dâm bụt. Chị Vân vội lau tay vào vạt áo, bấm nút nhận cuộc gọi. Màn hình điện thoại sáng lên, chớp một nhịp ngắn trước khi gương mặt anh Hậu hiện ra... rám nắng, dính bụi kim loại và mồ hôi.

Phía sau anh là khu xưởng nhá nhem ánh sáng. Đèn ne-on hắt ra một màu xanh chiếu lên những ống sắt, dây điện, mũ bảo hộ treo lủng lẳng. Tiếng máy móc rì rầm, lẫn trong đó là tiếng người gọi nhau bằng tiếng Đài pha lẫn Việt cộc cằn. Anh Hậu thấy vợ, mặt tươi rói:
- Vợ ơi... ở nhà bão lụt sao rồi em? Mấy hôm nay, con có đứa nào bị sốt không?

- May quá, đợt này bão nhẹ chồng ạ. Cái Linh mấy hôm ho dai, em ra chỗ các sơ lấy thuốc cho nó uống rồi. Thằng giữa và thằng út vẫn mạnh khỏe. Chúng nó nhớ ba dữ lắm. Mà... Mấy hôm nay, anh tăng ca thế nào rồi? Ăn uống có đầy đủ không?
- Cũng tạm. Có bữa quên cơm tối. Làm xong chỉ muốn gọi cho em và các con thôi.

Chị cắn môi, không đáp. Anh cười, mắt hoe hoe:
- Anh tính tháng tới gửi thêm tiền, mình xây hàng rào và lắp cái cổng. Mẹ con ở nhà cho an toàn. Anh muốn em giữ gìn sức khỏe, đừng làm việc quá sức. Em phải có sức mới lo cho tụi nhỏ được.

Hôm nay, không hiểu sao anh dặn dò kỹ hơn mọi lần. Mấy đứa nhỏ đang xem ti-vi, nghe tiếng ba gọi, chúng nó liền sà lại bên mẹ. Con gái lớn reo lên:
- Ba, Tết này ba về nhớ mua cho con cặp tóc màu tím nha!

Thằng giữa chen vô:
- Con muốn cái xe có đèn nháy!

Đứa út mới gần ba tuổi, chưa biết đòi quà. Nó còn trong dạ mẹ thì ba nó đã sang Đài rồi. Cũng vì thế, anh Hậu quyết định về phép sau ba năm, để thăm vợ con, và được ôm thằng út lần đầu. Anh nhìn bọn trẻ âu yếm. Chỉ cần thấy tụi nhỏ, anh lại như có thêm sức để cày, để chịu đựng nơi xứ người. Rồi anh mím môi, nựng:
- Ba thương! Ráng mấy tháng nữa thôi là ba về. Về rồi ba chở cả nhà đi ăn phở, dắt mấy đứa đi mua đồ Tết... Ở nhà phải ngoan, nghe lời mẹ, học cho giỏi, chăm đi lễ, nghe chưa?

Có gì đó trong giọng anh hôm nay khiến chị nghèn nghẹn, nhưng chị không dám hỏi. Vì ở bên kia màn hình, người đàn ông của chị vẫn cố cười thật tươi, dù mắt đã thâm quầng vì thiếu ngủ. Rồi có tiếng gọi vọng lại từ phía sau:
- Hậu! Mau lên! Ông chủ kêu vô hàn khung sắt.

Anh giật mình quay lại. Hôm nay, công ty nhận công trình lớn, phải tiếp tục tăng ca cho kịp tiến độ. Anh vội ngoái nhìn vợ con qua màn hình thêm một lần nữa, nụ cười chưa kịp tắt đã vội vã:
- Thôi, ba làm tiếp đây... thương mấy mẹ con nhiều lắm...

Rồi màn hình tắt.

Cả ngày hôm ấy, chị Vân tất bật dọn dẹp sau bão. Chị ráng thu dọn cho gọn gàng, sợ mấy đứa nhỏ chạy nhảy bị vấp ngã. Chạng vạng tối, chị lúi húi bước lên thềm. Người rã rời, tay đưa lên cởi nút chiếc áo bẩn đã ướt sũng mồ hôi. Thằng út thấy mẹ vào nhà liền chạy lại bíu lấy gấu áo. Bỗng tiếng điện thoại réo lên. Chị giật mình. Vừa cầm lên thì tiếng chuông đã tắt. Rồi chị khựng lại nhìn màn hình: mười cuộc gọi lỡ. Cùng một số lạ. Chưa kịp nghĩ gì, điện thoại lại đổ chuông. Tim chị đập thình thịch, tay run run bấm nút nghe.
- Chị Vân phải không ạ? Em... là đồng nghiệp của anh Hậu ở bên Đài Loan.

Một làn hơi lạnh chạy dọc sống lưng, chị siết chặt điện thoại.

- Vâng! Có chuyện gì vậy ạ?

Đầu dây bên kia im vài giây... thứ im lặng rất lạ, kiểu im lặng mà người ta biết, có nó là một bi kịch sẽ ập tới.

- Chị... Anh Hậu bị tai nạn lao động. Mất rồi, chị ơi!

Chị choáng váng, tim đập dồn dập, bấu tay chặt vào đứa út. Nó òa khóc. Chị vẫn không tin vào tai mình:
- Anh... anh ấy... sao lại thế được? Lúc sáng, anh mới điện thoại về nhà mà. Tại... tại sao lại như vậy được?

Giọng bên kia khe khẽ vọng lại, ngập ngừng:
- Chị ơi... Em rất tiếc phải nói với chị như thế, nhưng đó là sự thật. Anh Hậu không còn nữa. Tai nạn quá bất ngờ. Lúc anh đang cúi mình hàn dưới khung thép, ngọn lửa hàn còn tóe sáng xanh lè trong tay, bất ngờ... cỗ máy trượt xuống đè ngang thân.

Tiếng chị run rẩy, gần như thều thào:
- Không... Không thể nào!!!

Giọng bên kia ngắt quãng, như cũng đang cố kìm nén nước mắt:
- Chị... chị phải mạnh mẽ lên. Anh ấy muốn thế... Ở bên này, anh em sẽ tìm mọi cách để đưa anh về với gia đình sớm nhất có thể.

Chị không nói gì được nữa. Đứng rùng mình, nấc lên liên hồi. Cuối cùng, điện thoại cúp, để lại trong lòng chị một nỗi đau tê tái, ngây dại.

Một tấm màn tím u sầu rũ xuống cả họ hàng nội ngoại, trùm kín mấy con ngõ nhỏ của xóm đạo suốt cả tuần lễ. Nó tuy vô hình nhưng lại nặng trĩu, cứ âm thầm làm quặn thắt lòng người. Theo lời kêu gọi tha thiết của cha xứ, nhiều ân nhân đã gom góp từng đồng để đưa anh về lại quê nhà. Đó là ước nguyện lớn nhất của chị và gia đình. Phải rồi! Lá còn xanh mấy cũng muốn rụng về cội!

Một buổi chiều, sân nhà chị Vân chật ních người hơn những buổi chiều khác. Tiếng khóc, tiếng kêu than, tiếng nức nở đứt quãng hòa lẫn với tiếng quạt gió phập phập. Nghe mà não nùng.

Ở một góc sân, ba đứa con nhỏ của chị - bé gái lớn mới bảy tuổi, thằng giữa vừa lên năm, đứa út chưa đầy ba tuổi - vẫn vô tư chơi đùa. Khuôn mặt lem nhem bụi đất, đôi tay nhỏ bé nghịch cát, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng cười trẻ nít. Nhưng rồi chúng tản ra, chạy mỗi đứa một góc. Bé Linh, cô chị cả, chợt lao đến giật chiếc khăn tang treo lủng lẳng trên đầu thằng giữa. Giọng nói non nớt nhưng đầy uy quyền:
- Cái này của chị mà, đưa đây!
- Không phải, của em chứ! Em mách mẹ cho coi.

Thằng bé mếu máo, ôm mối oan nhỏ nhoi, lon ton chạy vào mách mẹ. Nhưng mẹ nó lại nằm xoài bất động trên giường, hơi thở yếu ớt như muốn tắt, đôi mắt vẫn dõi ra cửa, chờ đoàn xe chở chồng về. Thằng bé cứ níu lấy tay mẹ, vừa nức nở vừa trách chị gái. Chị chẳng đáp, ruột gan như bị ai cào xé khi nhìn lũ con dại. Bà ngoại thấy vậy vội kéo nó ra sân, dỗ dành. Thằng bé ngước mắt hồn nhiên hỏi:
- Bà ơi, nãy ai bảo hôm nay ba cháu về à? Ba có mua nhiều quà cho cháu không bà?

Bà ngoại chết lặng, vội bụm miệng quay đi. Cái cách thằng nhỏ gọi "ba" xé toạc tim người lớn. Vì ai cũng biết, chẳng bao lâu nữa, nó sẽ hiểu: cha nó trở về, không phải với quà, mà bằng cái xác lạnh.

Khi chiếc xe cứu thương vừa dừng lại trước sân, tiếng máy còn chưa tắt, chị Vân bật dậy như bị sét đánh. Một tiếng thét xé lòng cất lên, tiếng thét của cả một trời yêu thương, nhớ nhung, đau khổ, dồn nén vỡ tung:
- Hậu ơi... sao anh lại về với em như thế này? Anh ơi, Hậu ơi... tỉnh lại đi anh... không cho anh đi làm nữa...

Chị lao đến, gục xuống, ôm chặt, đầu liên tục đập vào cỗ quan tài. Gương mặt chị trắng bệch như vôi, môi thâm tím, mắt trợn ngược, miệng thều thào vài tiếng khản đặc:
- Hậu ơi... đừng để em như thế này mà đi...

Người ta vội can chị ra để chuyển xác vào nhà. Một người đàn bà ôm lấy chị, ghì đầu chị vào ngực, vừa vỗ về, vừa thì thầm trong tiếng nấc:
- Vân ơi... con bình tĩnh lại... con còn ba đứa nhỏ nữa...

Thế rồi, cả xóm đạo lặng lẽ tiễn đưa anh trong thánh lễ cuối cùng, trước khi về với lòng đất mẹ. Giữa dòng người tiễn biệt, người ta thấy một góa phụ tiều tụy lê bước sau quan tài người đàn ông của chị. Chị không thể tự mình bước đi. Có hai người dìu chị.

*

Cuộc sống của người góa phụ chưa bao giờ dễ dàng. Dẫu được sự đùm bọc của họ hàng nội ngoại thì cũng chẳng ai có thể thấu hết nỗi đau riêng âm ỉ trong lòng chị. Suốt gần một năm để tang chồng, chưa một ngày nào chị bớt nhớ, bớt đau.

Chị ngậm ngùi trong thinh lặng, gắng gượng lo cho mấy đứa nhỏ. Đã không ít lần chị thấy mình như ngã quỵ, nhưng rồi chị không cho phép mình gục ngã. Chị đi lễ đều đặn, vẫn đọc kinh liên gia, và thỉnh thoảng xin lễ cho chồng. Nhịp sống trong xóm đạo dần sưởi ấm trái tim lạnh buốt của chị.

Thế nhưng, đúng vào ngày giỗ đầu của anh Hậu, tai họa lại ập xuống. Bé Linh, mới tám tuổi đầu, bỗng đổ bệnh. Ban đầu chỉ là những triệu chứng lạ lẫm, mơ hồ, không ai ngờ đến. Cho đến khi chị đưa con vào bệnh viện, lời bác sĩ như tiếng búa đánh thẳng xuống đầu:
- Cháu mắc bệnh "loạn dưỡng cơ Duchenne" hiếm gặp. Thống kê cho thấy, cứ hơn ba ngàn người mới có một ca.

Chị Vân chết lặng. Tai ù đặc. Trái tim vừa mới nguội bớt sau cơn bão tang thương, nay lại bị thiêu đốt bởi tin dữ. Chị nhìn đứa con gái gầy gò, ngồi co ro trên ghế chờ, đôi mắt ngây thơ chẳng hề hay biết gì. Trong lòng chị, một nỗi kinh hoàng dâng lên, quặn thắt: "Nếu con bé cũng bỏ chị đi như người cha khốn khổ của nó thì sao?" Cổ họng chị nghẹn cứng. Trước mắt chị là một khoảng tối sầm, đặc quánh.

Và rồi, điều không ai muốn vẫn xảy đến. Sau ba tháng nhập viện điều trị, bé Linh đã không qua khỏi. Mọi sự diễn ra quá nhanh, quá tàn nhẫn. Một lần nữa, chị Vân suy sụp. Lần này, nỗi đau không còn mang hình hài rõ rệt nữa, bởi nỗi đau của người mẹ mất con vốn vượt ra ngoài mọi ngôn từ. Người ta có thể gọi tên hàng trăm nỗi đau, nhưng riêng nỗi đau này thì không. Những nỗi đau ghê gớm nhất của kiếp người "mất chồng, mất con" chị đã lần lượt nếm trải. Chị tự hỏi: "Tại sao? Tại sao con phải gánh chịu bất hạnh đến tận cùng như thế? Chúa ở đâu khi đứa con gái bé bỏng của con như một nụ hoa tươi bỗng héo tàn trong phút chốc?"

Người ngoài nhìn vào, ai cũng xót xa, thương cảm, nhưng chẳng ai làm gì được. Vì quyền sinh tử đâu nằm trong tay phàm nhân.
Sau đám tang bé Linh, chị Vân như hóa điên. Ngày cũng như đêm, chị chẳng dám rời hai đứa con còn lại nửa bước. Đi đâu, chị cũng dắt theo, ôm chầm, ghì chặt vào lòng như sợ một cơn gió thoảng cũng có thể cướp mất. Ánh mắt chị ráo hoảnh, lúc nào cũng ngước lên trời, lúc lại đảo quanh như kẻ bị săn đuổi. Chị siết con chặt đến mức đôi khi chúng khóc thét lên, giãy giụa trong vòng tay mẹ. Lòng dạ chị sợ Chúa lấy đi hai thiên thần còn sót lại của mình. Chị chạy trốn Ngài! Chị không còn tham gia các sinh hoạt trong giáo xứ, hầu như bỏ thánh lễ.

Và rồi, người góa phụ ấy đã tự định nghĩa mình là "người đàn bà có trái tim đau khổ", sống trong nỗi ám ảnh triền miên. Chẳng ai có thể giúp chị thay đổi cách suy nghĩ, kể cả cha xứ và các sơ gần nhà.

Ngày lễ giỗ mãn tang anh Hậu, chị Vân dắt hai con ra mộ thăm ba và chị gái của chúng. Gió trời lồng lộng, đồi cao hun hút. Người đàn bà tưởng đã hóa dại đứng đó, nước mắt ròng ròng. Chị cắn chặt môi đến như bật máu, mong cho lòng thôi khóc, nhưng nước mắt vẫn tuôn ra. Nó mặn chát mùi nghiệt ngã.

Từ bên phần mộ mới đắp của chồng và con, ánh mắt chị bỗng dừng lại ở mấy ngọn nến đang cháy leo lét phía lễ đài Đất Thánh. Ai đó đã thắp lên, như một lời cầu nguyện vô danh. Phải chăng người ấy cũng đang chung chia một nỗi đau như chị? Chị dắt hai đứa nhỏ lại gần. Trước mặt chị là tượng Đức Mẹ Sầu Bi ôm xác Chúa Giê-su.

Chị đứng bất động. Đôi mắt đăm chiêu nhìn lên gương mặt Đức Mẹ. Kìa! Một người phụ nữ cũng từng chịu nỗi đau đớn khôn cùng "mất Con, mất tất cả" mà vẫn đứng vững với hai tiếng "Xin Vâng". Không gào thét, không giãy giụa, không than trách. Mẹ lặng lẽ ôm xác Con trong sự thành tín.

Nỗi đau của Mẹ chính là khúc bi ca của muôn vàn người mẹ đau khổ. Nỗi đau ấy đã hóa thành đức tin dưới chân Thập Giá. Ai đó đã "khắc" nỗi đau này vào đá, để đá kia dẫu lạnh lẽo, vô tri vẫn trở thành lời chứng sống động cho niềm hy vọng hằng sống.

Trong giây phút trào dâng ấy, chị Vân cảm thấy Người Mẹ bằng đá kia bỗng choàng cánh tay, ôm chầm lấy mình. Tựa hồ có một tiếng thì thầm vang lên từ nơi sâu thẳm: "Nỗi đau của con cũng sẽ không biến mất. Chúa đã khắc nó vào trái tim Người."

Chị quỳ sụp xuống, phó dâng mọi nỗi thương đau khôn tả của mình, để "khúc bi ca của chị cũng được khắc trong đá, hòn đá tảng là Chúa Ki-tô mà chị vẫn nghe trong Lời Chúa". Và từ chính hành vi hiến tế ấy, chị tìm thấy một điều kỳ lạ: trong tận cùng mất mát, đã bừng lên một "khúc ca hy vọng khắc trong tim". Chị nhìn vào hình ảnh Chúa Giê-su trong tay Mẹ và run run thầm nguyện: "Con sẽ không còn lê bước vác, nhưng con sẽ ôm lấy Thập Giá Chúa mà đi...".

Trong gió chạng vạng, bụi thiên tuế vẫn sừng sững vươn "những bàn tay xanh" hướng lên trời giữa bao cùng khốn nhân sinh.

Maria Fiat Diệu Huyền, MTG Vinh