Tưởng niệm linh mục nhà thơ F.X Nguyễn Xuân Văn

LAN MARY

 




PHẦN THỨ BA

NGUYỄN XUÂN VĂN
VÀ SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG

LỜI GIỚI THIỆU TÁC PHẨM “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”

Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Soạn, Giám Mục Qui Nhơn
Những bút hiệu “Văn Thao” và “Xuân Văn” đã diễn tả tuyệt vời tài nghệ và ước mơ của linh mục thi sĩ Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, hiện là Hạt trưởng Giáo hạt Phú Yên, kiêm Chánh xứ Tuy Hòa, Phú Yên, Giáo phận Qui Nhơn. Trong tinh thần hội nhập văn hóa, với ước mơ mãnh liệt tung gieo Lời Chúa muôn nơi, linh mục thi sĩ Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn đã diễn giải cuộc đời Chúa Giêsu Cứu thế qua 9.764 câu thơ kết thành một kiệt tác.
Lời Chúa quả là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa Cha đã thương ban cho nhân loại. Người lãnh nhận hồng ân ấy luôn lãnh nhận theo cung cách của mình. Để Lời Chúa được tiếp thu dễ dàng trong quần chúng, linh mục thi sĩ đã thi vị hóa Lời Chúa nhờ các vần thơ vừa đậm tính dân gian, vừa bộc bạch ý nghĩa sâu xa của Giáo lý Kitô giáo. Đây quả là một phối hợp tuyệt vời giữa cái cao siêu của Lời Chúa và hồn thơ lai láng của thi sĩ.
Tôi xin giới thiệu tập thơ tràn đầy sức sống và đượm hương sắc thi vị cho những ai muốn ngâm nga, muốn ghi nhớ Phúc âm, muốn cho Lời Chúa thấm nhập tâm can của mình. Mong mọi người hãy cầm lấy và đọc “Sứ Điệp Tình Thương”.
Nguyện những lời thơ thanh tao này thấm nhập vào lòng người, để biến mọi người thành bài ca chúc tụng Thiên Chúa.

Qui Nhơn, ngày 01 / 05 / 2001


Phêrô Nguyễn Soạn
Giám mục Giáo phận Qui Nhơn

“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
TRONG CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA ĐỨC TIN VÀ VĂN HÓA

Đức Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống,
Giám Mục phụ tá Tổng Giáo Phận TP. Hồ Chí Minh

Như một đúc kết cho buổi trao đổi về tác giả và tác phẩm Sứ Điệp Tình Thương, cuối giơ chia sẻ, Đức Giám Mục đặc trách Văn Hoá của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống đã phát biểu.

Trọng kính Đức Ông,
Kính thưa quý Cha, quý Tu Sĩ nam nữ,
Cùng toàn thể quý Văn Nghệ Sĩ.
Bản thân tôi hôm nay rất hân hạnh được đến đây. Quý vị đã chia sẻ những mối đồng cảm đối với linh mục nhà thơ Nguyễn Xuân Văn. Giờ đây tôi cũng xin được chia sẻ chung mối đồng cảm ấy. Cụ thể, xin được nói đến ba chữ "cảm".
Chữ cảm thứ nhất là cảm mến.
Khi đề nghị tôi đến đây và có mặt hôm nay, cha Trăng Thập Tự cũng đã nói đôi chút về tiểu sử cha Nguyễn Xuân Văn. Tôi không được may mắn như phần đông quý vị ở đây là đã được gặp mặt ngài và cũng chưa có dịp may được đọc thơ ngài. Cha Trăng Thập Tự có bảo tôi rằng "Đức Cha bận việc quá mà tập thơ thì dài lắm". Có lẽ vì vậy cho nên cha Trăng Thập Tự quên đưa tập thơ cho tôi, cho nên tôi chịu thua, không đọc được. Thế nhưng đến đây, được gặp gỡ quý vị đã từng sống với cha Nguyễn Xuân Văn và biết nhiều về cha Nguyễn Xuân Văn, được nghe những mối đồng cảm qua chia sẻ trong cuộc sống hoặc trong thưởng thức thơ văn, tôi hết lòng cảm mến ngài, dù chưa hề gặp mặt.
Chỉ nghe qua tên gọi linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn, tôi đã cảm thấy có cái gì lâng lâng, cái lâng lâng về cuộc gặp gỡ giữa một đàng là văn hoá và một đàng là đức tin. Danh xưng của ngài là nhà thơ linh mục hay linh mục nhà thơ, đối vời tôi, thì cũng thế thôi. Ấy thế nhưng, có được sự uyển chuyển khéo léo giữa một đàng là nhà thơ, một đàng là linh mục, rồi cả hai cùng tổng hợp trong một con người cụ thể, nhất là được thể hiện qua một tác phẩm như Sứ Điệp Tình Thương, thì quả là một điều đáng quý. Đối với tôi, cái đáng quý đặc biệt ở đây là một cuộc đối thoại giữa văn hoá và đức tin, cuộc đối thoại đã để lại một hoa trái tốt lành là thi phẩm Sứ Điệp Tình Thương.
Chữ cảm thứ hai là cảm phục.
Nghe quý vị phát biểu, chia sẻ đồng cảm, được biết Sứ Điệp Tình Thương đã hình thành với 9764 câu thơ lục bát, ghép vần với nhau thật hoàn chỉnh như ghép bằng những mắt xích, như nhà thơ Lê Quý Long vừa trình bày, tôi thực sự rất cảm phục.
Tôi tự nghĩ, trong đời mình, muốn làm vài câu thơ, gieo vần thế nào đã thấy khó, làm được một bài thơ đã thấy phấn khích, thì tập thơ dài 9764 câu, quả là một công trình đồ sộ. Thành thử ra, niềm cảm phục càng dâng cao. Hơn nữa, tác giả không phải là một nhà thơ có nhiều thời giờ rảnh rỗi mà là một con người bận rộn của mục vụ. Ngài gắn kết đời sống mục vụ của mình với một công trình thi ca, có được những bước đi hài hoà, đem những bài giáo lý Tin Mừng diễn thành thi ca, coi thi ca như một phương tiện diễn đạt đức tin, lấy ý tứ đức tin để phả vào thi ca những nét mới như quý vị vừa phân tích, thì quả là rất đáng cảm phục.
Chữ cảm thứ ba là cảm tạ.
Cảm tạ vì có buổi họp mặt hôm nay. Cảm tạ vì tác giả và tác phẩm Sứ Điệp Tình Thương. Cảm tạ vì những lời nguyện xin của quý vị dâng lên cầu nguyện cho linh hồn cha Phanxicô Xaviê. Đặc biệt cảm tạ vì sự góp mặt của các anh chị em cầm bút, của các nghệ sĩ thổi sáo, ngâm thơ, của ca đoàn Trùng Dương và cả những tác giả đã trình diễn những bài hát tự viết ra để nói lên tâm tình của mình.
Thưa quý vị,
Được gặp gỡ quý vị ở đây trong dịp giỗ 100 ngày của linh mục nhà thơ Nguyễn Xuân Văn, với tư cách là người được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trao cho công tác Văn Hoá, nhằm tạo nên những bước hài hoà trong đối thoại với đức tin và văn hoá, tôi xin mời gọi quý vị đóng góp cho Hội Đồng Giám Mục Việt Nam những suy tư, những ý kiến để tạo thuận lợi và đẩy mạnh công cuộc đối thoại giữa đức tin và văn hoá tại Việt Nam, để công cuộc này có được những bước đi cụ thể, để Kitô giáo Việt Nam mở toang được cửa ra với đời, giới thiệu được chính tấm lòng của mình với xã hội.
Tại giáo phận Tp.HCM. đã có bắt đầu những bước thử nghiệm, như vào dịp mùa Chay, mùa Vọng, Tết Nguyên Đán,... Toà Giám Mục đã hân hạnh đón tiếp các văn nghệ sĩ, giới cầm bút, trong buổi tĩnh tâm chia sẻ, trong bữa ăn thân tình với Đức Tổng Giám Mục. Đó cũng chỉ mới là những khởi đầu. Nhiều người đã nêu rõ nguyện vọng cần nuôi dưỡng những cuộc gặp gỡ như thế để tiến tới những cuộc trao đổi và hợp tác, để rồi có thể giới thiệu văn hoá đức tin cho thế giới bên ngoài. Bản thân tôi cũng thấy những sinh hoạt ấy thật là tốt, để đức tin và văn hoá có dịp giao lưu gặp gỡ.
Nhân đây tôi cũng có một gợi ý. Khi nghe qua sự đánh giá của quý vị, coi Sứ Điệp Tình Thương của cha Nguyễn Xuân Văn là một tác phẩm lớn, tôi thấy muốn mời gọi quý vị góp ý trao đổi thêm để có được sự chín muồi cho việc hình thành những giải thưởng công giáo về văn hoá, như giải thưởng về văn học, về thi ca, về nhạc, hoạ,... nói chung là cho tất cả những sáng tác của giới công giáo.
Trong lần đi họp Hội Đồng Toà Thánh về văn hoá vừa qua, vị chủ toạ hỏi tôi về tình hình đối thoại giữa văn hoá và đức tin tại Việt Nam, tôi cũng đã rất buồn mà trả lời với ngài rằng: "Muốn thì nhiều mà điều kiện trong tầm tay thì chưa có". Tuy nhiên, nếu tất cả quý vị đây đồng lòng nhất trí, thì cái khó khăn ấy, tới một lúc nào đó cũng có thể vượt qua. Ở Việt Nam, kho tàng về đối thoại giữa đức tin và văn hoá tiềm ẩn và phong phú, nhưng để có thể mở toang ra với đời thì hiện nay còn bế tắc. Vì thế, tôi xin quý vị góp ý để làm sao mở được cánh cửa ấy.
Tôi nghĩ rằng tiếng nói đối thoại giữa đức tin và văn hoá là tiếng nói tiếp nối của Sứ Điệp Tình Thương. Được như thế thì ba chữ cảm hôm nay sẽ còn vang vọng mãi.

“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
MỘT CÔNG TRÌNH HỘI NHẬP VĂN HÓA

Giáo sư Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương
Hôm nay kính cẩn nghiêng mình trước di ảnh cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, tôi xin bày tỏ tâm tình như thắp một nén hương lòng tưởng niệm ngài. Đó là một sự tiếc nuối ân hận về một việc có thể gọi là một món nợ văn chương. Vâng, cách đây hơn 5 năm, mặc dầu chưa quen biết nhau, trước khi xuất bản quyển “Sứ Điệp Tình Thương”, qua trung gian linh mục Võ Tá Khánh, ngài đã có ý nhã đề nghị tôi viết lời giới thiệu tác phẩm ấy. Tôi rất cảm kích trước sự chiếu cố của ngài, nhưng tôi đã không dám nhận lời.
Tôi vẫn mong có dịp ra Tuy Hòa thăm ngài để tạ lỗi và học hỏi về vấn đề hội nhập văn hóa, một thao thức lớn của Giáo Hội toàn cầu cũng như Giáo Hội tại Việt Nam.
Nay thì dịp ấy không bao giờ có nữa! Tiếc nuối ân hận cũng chẳng ích gì! Tưởng niệm Ngài, tôi xin được nói lên sự khâm phục và tri ân của tôi đối với ngài.
Khâm phục, vì chỉ nguyên việc sáng tác một thi phẩm gần 10.000 câu lục bát, mà có những đoạn văn chương không thua kém gì nhiều những câu lục bát tuyệt diệu của thi hào Nguyễn Du, cũng đòi hỏi biết bao nhiêu là công sức tâm huyết, nhất là đang khi phải gánh vác trách nhiệm nặng nề của một vị mục tử trong một giai đoạn lịch sử mà không phải mọi việc đều thuận lợi. Tôi tự hỏi: ngài đã phải trải qua bao nhiêu đêm thức trắng mới đạt được một kết quả như vậy?
Tri ân, vì cuốn Sứ Điệp Tình Thương đã đem lại cho tôi một nguồn vui không nhỏ, khi qua tác phẩm ấy, tôi đã gặp được một tâm hồn mà ở đó sự hội nhập văn hóa của đức tin đã đạt tới một chiều sâu thăm thẳm.
Chúng ta phải minh định rằng hội nhập văn hóa chủ yếu là một điều xảy ra chính trong tâm hồn của các tín hữu một tôn giáo nào đó thuộc một nền văn hóa đặc thù nào đó. Đó là một sự sống tâm linh kết quả của một sự phối hợp giữa hai mầm sống: Đức tin và văn hóa, tương tự như sự thụ thai của một bào thai trong lòng người mẹ. Sự thụ thai ấy chỉ có thể thực hiện được trong một tâm hồn mà đức tin đã bén rễ sâu vào các chiều sâu thẳm nhất của Tâm Thức, và tâm thức phải thấm nhuần tận gốc rễ của nền văn hóa. Trong tâm hồn ấy, đức tin và văn hóa phải trở nên như “một xương một thịt”, kết quả của một tình yêu có thể nói là tuyệt diệu!
Và như vậy thì, sự hội nhập của đức tin kitô giáo vào một nền văn hóa nào đó trở nên gần như là sự tiếp diễn của mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể được phổ biến mọi nơi qua mọi thời đại và sẽ viên mãn vào ngày cánh chung, khi mà mọi sự đều được thâu gồm trong Đức Kitô.
Trường hợp cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, về phương diện đức tin ta không phải nói nhiều. Một con người hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa, tận tụy phục vụ Giáo Hội như ngài thì mức cao thâm ắt phải là có tầm cỡ.
Còn về mặt văn hóa Việt Nam? Với chương trình đào tạo ở Tiểu và Đại Chủng Viện trước thời Vaticanô II ngài đã đón nhận, tôi tự hỏi nhờ đâu mà ngài nhập cuộc được vào dòng truyện thơ lục bát thuần túy và đặc thù Việt Nam, với những tác phẩm đã tin sâu vào tâm hồn người Việt, từ hàng lê thứ cho đến bậc quân vương, từ người nông dân mộc mạc cho đến lớp tao nhân mặc khách? Bí quyết nào đã đưa cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn đến chỗ như thể bơi lặn, vẫy vùng tới mức điêu luyện không kém gì tác giả của Hoa Tiên Truyện và Đoạn Trường Tân Thanh? Điều đó đòi hỏi một tình yêu văn hóa nước nhà sâu xa và một nỗ lực trau dồi dẻo dai, bền bỉ. Thật quả là một gương sáng đáng nêu cao cho lớp hậu sinh noi theo để Đức Tin Kitô ngày càng đi xa, ăn sâu vào con đường hội nhập văn hóa.
Phải công nhận rằng Sứ Điệp Tình Thương là cuốn “Phúc âm diễn ca” đầu tiên có bề dày đáng kính nể và cả hai mặt số lượng và phẩm chất, nhất là về cái âm hưởng, hương vị thuần túy Việt Nam, làm cho nhiều đoạn nếu đem ngâm lên người ta có cảm tưởng như vang vọng từ Hoa Tiên, Đoạn Trường Tân Thanh, Mai Đình mộng ký…… Tôi tin chắc rằng khi nghe Tin Vui Cứu Độ, được truyền thông qua kênh “Sứ Điệp Tình Thương”, độc giả Việt Nam sẽ cảm thấy nó rất gần gũi với tâm hồn dân tộc, chứ không phải là cái gì xa lạ, ngoại nhập.
Đó là một điều quí giá vô ngần
Tôi xin gợi lên hình ảnh sau đây để minh họa.
Qua Sứ Điệp Tình Thương, Tin Vui Cứu Độ sẽ đánh động tâm hồn người Việt Nam như lời chào của Đức Mẹ Maria đánh động tâm hồn bà Isave, làm cho bà ta linh cảm được rằng trong cung lòng người em họ đang đến viếng thăm mình đây, có sự hiện diện của Đấng Mêsia muôn dân hằng mong đời.
Cho nên, tôn xưng lên chút ít, ta có thể ví tâm hồn cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn với cung lòng Đức Mẹ Maria. Nơi tâm hồn ấy, Tin Vui Cứu Độ đã nhập thể vào hình hài của một thể thơ thuần túy đặc thù Việt Nam, và tác phẩm Sứ Điệp Tình Thương là tiếng chào mà Đức Mẹ Maria trao cho bà Isave. Tiếng chào ấy chắc chắn sẽ gõ vào cửa tâm hồn của độc giả Việt Nam, và nhờ ơn Đức Chúa Thánh Thần, sẽ gieo vào lòng không ít độc giả cái linh cảm tương tự như đối với bà Isave vậy.
Thế thì, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên anh linh cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn lời chào mừng đã thốt ra trên môi bà Isave khi tiếp đón Đức Mẹ Maria đến viếng thăm mình. Quả vậy! Đức Mẹ đã hiến dâng khí huyết của mình để tạo nên hình hài cho Ngôi Lời Nhập Thể thế nào, thì một cách tương tự, cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn trải qua bao ngày tháng cũng đã hiến dâng não cân, huyết nhục của mình để Tin Vui Cứu Độ được hoài thai, mang lấy hình hài của một Sứ Điệp Tình Thương dưới dạng diễn ca theo thể thơ lục bát thuần túy đặc thù Việt Nam, lưu lại cho con cháu vua Hùng mà toàn quốc sẽ tổ chức lễ giỗ vài ngày sắp tới đây.
Ý nghĩ trên đây đã giúp tôi thoát khỏi phần nào sự ân hận đã không dám nhận lời viết bài giới thiệu Sứ Điệp Tình Thương. Quả thật, không dám là rất phải, bởi vì Sứ Điệp Tình Thương không chỉ có giá trị cao về bình diện văn thơ thôi! Tác phẩm ấy còn có một chiều kích cao vời khác nữa. Và như vậy, Thiên Chúa đã an bài để cho chính một vị giám mục kế vị các Tông Đồ làm việc ấy. Có thể mới xứng đáng.
Vì vậy, trong lúc cầu nguyện xin Chúa sớm ân thưởng cho người con hiếu, bậc tôi trung của Ngài là cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn trên Nước Trời vinh hiển, chúng ta hãy hợp lòng với Đức Giám mục giáo phận Qui Nhơn mà nguyện rằng: “Nguyện những bài thơ thanh tao này thấm nhập vào lòng người, để biến mọi người thành bài ca chúc tụng Thiên Chúa. Amen!”
Hẳn rằng, với biết bao lao tâm khổ tứ để sáng tác ra Sứ Điệp Tình Thương, đứa con yêu dấu của lòng Ngài, cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn kính yêu của chúng ta cũng không có nguyện vọng nào khác hơn. Chắc từ nơi vinh hiển, ngài sẽ cầu nguyện và chúc lành cho chúng ta.
Ngày 06 âm lịch, tháng Ba, Nhâm Ngọ
Thế Tâm Nguyễn Khắc Dương.

ĐỌC SÁCH “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
Tác giả Xuân Văn – NXB Thuận Hóa
(trích Lê Đình Bảng, hát lên mừng Chúa số 37)
Giữa thời buổi đang giăng mắc, tốc độ của Internet và CD Rom này, dường như người ta chỉ ưa nghe – nhìn hơn là chăm chú đọc và nghiền ngẫm. Số phận của những trang viết trên sách báo, vì thế, đã bị thử thách, lại càng ảm đạm hơn. Văn hóa tiêu dùng nhanh nhạy đang trở thành cái “mốt” sống thời thượng. Trong đời sống văn học, không lạ gì, khi thị hiếu của người đọc, chỉ nhắm vào truyện ngắn, thay vì tiểu thuyết, truyện dài trước kia. Còn thơ thì – theo số liệu của Hội nhà văn Việt Nam- một năm có gần 200 tập với hàng nghìn bài thơ rời; tuyệt nhiên không thấy trường ca hoặc truyện thơ có chương hồi như trong văn học cổ điển, cận đại. Cho nên, sự xuất hiện một tập thơ dày cộm như “Sứ Điệp Tình Thương” của Xuân Văn ở giữa thời điểm này đúng là một hiện tượng, một nghịch thường. Có điều lý thú là lâu nay, kinh sách nhà đạo lại chen chân được vào danh mục in ấn phát hành của một số nhà xuất bản lớn, như NXB (nhà xuất bản) Tổng Hợp TPHCM với Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Truyện Tiền thân Đức Phật, Bí Tích của Giao ước mới hoặc như NXB Thuận Hóa với “Sứ Điệp Tình Thương”…
Cảm - giác – sợ những pho sách dày cộm, là một điều có thật. Đặc biệt đối với sách thuộc loại kinh truyện, triết lý, thần học cao siêu. Chúng vừa to khổ, nặng xác, lại vừa mỏi mắt, mệt tay. Chính bản thân tôi cũng không tránh khỏi cái quy luật ấy khi tiếp cận với “Sứ Điệp Tình Thương” gồm 414 trang, 9764 câu thơ, kể chuyện “Cuộc Đời Chúa Cứu” Thế qua 4 sách Tin Mừng của Matthêu, Marcô, Luca và Gioan. Theo tôi biết, công việc này đã có quá nhiều người làm, từ cụ Tống Viết Toại ở Huế (1956), cụ Mai Lâm (1958), cụ Long Giang Tử (1975) cho đến Linh mục Cao Đình Thuấn, Linh mục Antôn gần đây, dù ở dạng bản thảo hoặc in vi tính để phổ biến nội bộ… Thú thật, tôi rất ngại đọc loại này, một phần vì cơ sự đã rõ, một phần vì nó vốn khô khan, chả có gì hấp dẫn. Thế nhưng, mỗi chốc xem một tí, mỗi ngày đọc vài đoạn tôi đâm ra bị cám dỗ lúc nào không hay. Đọc đi, đọc lại vẫn phát thèm. Nói dối mắc tội trọng, tôi chưa hề một lần được quen biết tác giả Xuân Văn. Có chăng chỉ hình dung qua lời giới thiệu ở đầu sách của cha Tổng Đại Diện Giáo phận Qui Nhơn và qua lời kể sơ sài của cha bạn Võ Tá Khánh. Thì ra tác giả là một nhà tu- nhà thơ, cha sở Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn đang rao giảng Tin Mừng ở đồng lúa trù mật Tuy Hòa. Vừa dạy dỗ phần hồn con chiên bổn đạo ở trong nhà thờ, vừa góp tiếng ngân nga với trường văn trận bút. Tôi liên tưởng tới người lớp trước đã có công nhập lưu Kitô Giáo vào dòng chảy văn hóa dân tộc : từ Alexandre de Rhodes, Majorica, Lữ Y Đoan, Phan Văn Minh, P. Ký, L. Cadière, đến Hàn Mặc Tử, JM Thích, Xuân Ly Băng và nay là Xuân Văn. Tôi biết họ đã nhẫn nại và lặng lẽ để bơi ngược dòng, miễn sao hạt giống kia xanh tốt hơn cỏ lùng, lau dại, ra trái, đâm bông giữa đời thường.
Phải có ơn bền đỗ và thực sự bị cuốn hút lắm mới có thể đọc liền hơi, liền mạch gần một vạn câu thơ (gấp 3 lần truyện Kiều) lục bát. Cái sức cuốn hút ấy thể hiện ở bút lực tài tình, dẫn dắt ta đi dọc dòng thời gian, đúng hơn là đi dọc cuộc đời Đức Giêsu Kitô: từ tuổi thơ ở Nazareth, từ Jerusalem cho đến khi chết treo mình núi Sọ và Sống lại, về trời. Không miêu tả và trình thuật một cách sơ cứng, tác giả Xuân Văn còn góp phần khơi gợi bằng cảm nghiệm sâu xa, bằng nhịp thở sôi tràn rực lửa của trái tim, của đức tin lòng đạo. Bởi vì, ông “muốn đem Lời Chúa ghép thành vần điệu, đặt lên miệng các bà mẹ, chảy vào tai trẻ thơ”. Mà muốn gánh được cái gánh vừa nặng nề khổ ải, vừa cao cả thiêng liêng ấy – Thi ngôn chí và văn dĩ tải đạo – xem ra chỉ có thơ ca, chỉ có lục bát, một thể thơ thuần túy Việt Nam rất dễ làm, nhưng rất khó hay, khó đạt. Người yếu bản lĩnh, làm thơ ra chỉ là ca vè, đọc cho vui tai, bị đào thải ngay. Trường hợp nguyên tuyền và bất hủ như lục bát ở văn học dân gian, ở Nguyễn Du, Tản Đà, ở Huy Cận, Nguyễn Bính rất hiếm. Cho nên, trong mối lo đồng cảm, tôi ngại cho Xuân Văn vì ông phải căng mình ra suốt một chiều dài của tác phầm gần 10.000 câu thơ. May thay, điều ấy đã không xảy ra. Phải chăng, chính nhờ vào cái lưng vốn khá dày, tiếp thu từ dòng văn học cổ điển – đặc biệt từ kho tàng truyện thơ Nôm như Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Mai Đình Mộng Ký, Hoa Tiên và Truyện Kiều – mà Xuân Văn đã “vào chuyện”, đã “dẫn chuyện” một cách thành thạo, có bài bản nghệ thuật, khép có mở, rào đón hợp lý hợp tình. Điểm thành công lớn nhất của Xuân Văn là sự sáng tạo mới mẻ trong việc vận dụng ngôn từ, hình tượng Việt Nam vào dịch thuật và diễn ca Phúc Âm. Hãy cùng đọc thử một vài trích đoạn:
Thời gian ngày lụn tháng mòn
Ba tuần trăng khuyết, trăng tròn chóng qua
(Sinh nhật gioan tẩy giả 223-224)
Âm thầm tính chuyện bôn đào
Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn
(Nỗi lòng Giuse 281-282)
Tay nào vạch lá tìm sâu
Tay nào chủ chốt cầm đầu mối dây?
(Người đàn bà ngoại tình, 3679-3680)
Người sao độc ác gớm ghê
Thân sao đau đớn ê chề bấy thân?
(Chúa bị đánh đòn, 8459-8460)
Thú vị hơn cả là khi đọc những đoạn thơ ngẫu hứng – tác giả bảo là “suy diễn” – như những gợi mở, để chuyển mạch hoặc để giải bày riêng tư. “Sự thay đổi không khí” ấy khiến câu chuyện bớt ngột ngạt, tránh hẳn được sự lệ thuộc đến máy móc mà hầu hết các nhà dịch thuật thường vấp phạm trong quá trình chuyển tải. Xin mời độc giả thưởng thức với tôi:
Ngày xuân chim hót hoa cười
Nước non thêm sắc, mây trời thêm hương
Ca na chào đón Tân Nương
Thành Na-za-rét thơm danh một nhà
(Truyền Tin, 93-96)
Khi thuật cảnh ba nhà đạo sĩ phương Đông đến thờ lạy Chúa Hài Nhi ở Bê-lem, tác giả bèn đưa ra lời bàn thế này:
Gối rơm, nêm cỏ thương thay
Non vàng núi ngọc sánh tày được sao
Khăn thô so với long bào
Lều tranh sánh với trời cao, lạ lùng
Nghĩa gì đâu, miếng đỉnh chung
Hoa trôi mặt nước, khói bung lưng trời
(Hiển linh, 477-482)
Và đây nữa, lời sám hối tự tình của người đàn bà tội lỗi (2073 – 2078) thân thưa cùng Đức Kitô:
Con là vạn cổ thành sầu
Phần hèn nào dám cúi đầu xin ơn
Trông vào lượng cả từ nhân
Khỏi bề sống đục, được phần thác trong
Ơn Trên, ngày ước, đêm mong
Lệ lòng dù chảy cạn lòng chưa thôi.
Còn nhiều, còn nhiều lắm. Tôi tính ra, dễ đến 223 tiểu đoạn tương tự. Nay, nhân mùa Giáng Sinh, dẫn ra đây một trích đoạn mà tác giả Xuân Văn muốn gửi gấm chúng ta như một “Sứ Điệp Tình Thương” được lồng trong nhịp hát ru của dân gian:
Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng
Vội vàng ríu gối, quỳ bồng Con yêu
Hôn lên vầng trán mỹ miều
Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru Con
Con ơi, Con ngủ cho ngon
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày
Con ơi! Con ngủ cho say
Đời con trăm đắng nghìn cay hẹn chờ
Ru Con cho mộng cho mơ
Cho đời reo khúc nhạc thơ thanh bình
Ru Con nên vóc nên hình
Nên nguồn hy vọng, nên tình yêu thương
Ru con khắc khoải canh trường
Gió mưa thổn thức, tuyết sương ngậm ngùi
Ru con, Con ngủ cho mùi
Một mai đem lại niềm vui cho đời
Đời con khổ lắm, Con ơi!
Ru Con an giấc, mẹ vơi lòng sầu
Con ơi! Con ngủ cho lâu…
(Chúa Giêsu Giáng sinh, 351-369)
Để kết luận trang mục “Đọc sách” của Công Giáo và Dân Tộc, tôi xin nhắc lại mẫu chuyện vui vui. Số là khi đọc xong tác phẩm “Nguyễn Trường Tộ – Con người và di cảo”, một đấng “Vít-vồ” kia nói nhỏ với tôi: “Với công trình này, tác giả được cấp hộ chiếu để vào nước Thiên đàng rồi”.
Chẳng hiểu ý nghĩa cao sâu của lời nói ấy thế nào. Chỉ biết rằng, với tác phẩm trường thiên “Sứ Điệp Tình Thương” thì tác giả Xuân Văn, thày cả – nhà thơ Xuân Văn cũng quá xứng đáng được như vậy. Bởi ông đã thổi Tin Mừng vào tần số âm thanh ngôn ngữ của dân tộc ta bằng thứ vần điệu mượt mà, nền nã nhất là thơ lục bát, điều mà không phải ai ai cũng làm được.
Lê Đình Bảng

VÀI CẢM NGHĨ VỀ TẬP THƠ “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”

Bàng Sĩ Nguyên

Trước đây, trong tập thơ “Mảnh đất của tình thương”, tôi đã viết :
Có gì hạnh phúc bằng được mang tình thương
dù nặng lòng
Bởi tình thương mà bao nỗi nhớ càng bền lâu
trong chờ mong
Và hôm nay, cuốn Sứ Điệp Tình Thương của nhà thơ linh mục Xuân Văn tới tay, như đã có một điều gì báo trước cho nên tôi không vội lần giở từ đầu, mà ấp hai bàn tay vào sách như cách “lưỡng thủ hợp chưởng” của người “bói kiều”… Rồi tôi mới mở sách ra và gặp ngay những lời ru, lời của Người Mẹ bên máng cỏ. Lời ru bao la tình thương, lời ru khát vọng, lời ru chờ mong… Thơ man mác như bao lớp sóng trào xô vỗ vào các tâm hồn đồng cảm qua thời gian và không gian.
Những lời ru đó thoát thai từ tâm cảm của chính nhà thơ Xuân Văn qua những hàng chữ in ngả để phân biệt với chính lời Kinh Thánh được diễn tả thành thơ trong tập này. Đây, điệu hát ru của Sứ Điệp Tình Thương.
Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng
Vội vàng ríu gối quỳ bồng con yêu.
Hôn lên vầng tráng mỹ miều,
Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru con:
Con ơi Con ngủ cho ngon
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày.
Con ơi, Con ngủ cho say,
Đời còn trăm đắng ngàn cay hẹn chờ.
Ru Con cho mộng cho mơ,
Cho đời reo khúc nhạc thơ thanh bình.
Ru Con nên vóc nên hình,
Nên nguồn hy vọng nên tình yêu thương.
Ru Con khắc khoải canh trường
Gió mưa thổn thức tuyết sương ngậm ngùi.
Ru Con, Con ngủ cho mùi,
Một mai đem lại niềm vui cho đời.
Đời Con khổ lắm Con ơi,
Ru Con an giấc Mẹ vơi lòng sầu.
Con ơi, Con ngủ cho lâu
Ngoài trời mưa tuyết bắt đầu lên cơn”.
(Trích Sứ Điệp Tình Thương câu 351-370)
Chỉ có tình cảm mới gợi tình cảm. Tâm hồn tác giả chạm vào mảnh hồn tôi. Thế là tôi đọc tiếp để nghe tiếng đập của trái tim tình yêu trước những hàng chữ đứng, mang sự tình và sát với sự kiện đời Chúa cùng những hàng dụ ngôn của Ngài, của tinh thần Phúc Âm. Những chương hồi kể lại các giai đoạn của Ngôi Lời Nhập Thể, là Đấng Tự Hữu giáng sinh làm người, xuất hiện giữa trần gian, mãi cho đến nay mới có một cuốn sách kể lại tổng quát bằng thể loại thơ cổ điển của dân tộc Việt Nam.
Thật vậy, hai thể thơ lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ cổ điển của truyền thống dân tộc. Việc lựa chọn thể loại trong phương pháp sáng tác là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến thành công.
Cầm một tập thơ lục bát dày cộm chưa từng thấy (sách dày 426 trang, dày hơn cả cuốn Kiều), tôi hơi giật mình, bởi lẽ lục bát là ngôn ngữ của tình cảm. Tôi tự hỏi nó có thể đứng được hay không? Vì còn phải đến tính văn trong thơ nữa chứ! Phần riêng của sáng tạo trong tập này là đâu khi mà bao nhiêu tác giả, dịch giả, độc giả có sẵn trong tay biết bao cuốn sách bình giảng và khảo luận phản ánh trung thực nội dung kinh điển Phúc Âm? Vậy thì ở đây, trong Sứ Điệp Tình Thương của Xuân Văn, phải kể đến phần biểu hiện cảm xúc qua hình thức thể loại thơ sáu tám rất là trong sáng, nhuần nhuyễn về ý, về tình, về từ ngữ, về vần điều, âm sắc, hình tượng trong bối cảnh và nơi con người…
Ai đó có thể nghĩ rằng viết lại nội dung có sẵn về công trình Cứu Độ, mà tựa vào nền tảng Chân, Thiện, Mỹ đã cô đúc, đã điển hình, thì dễ thành công. Thế nhưng chính đó mới thật là cái khó đấy. Nhà thơ Xuân Văn viết bằng ngôn ngữ thi ca mẹ đẻ mà khởi sắc, tất phải có gì khác. Chỉ xem một câu này:
Chúa là Chúa
Mà cũng là người.
cũng đủ nâng tình con người lên… Những lời như thế chẳng là đã dẫn ra ý nghĩa lớn lao của con người ư? Trước dụ ngôn, trước ngôn sứ, nói lại lời Sứ Điệp của chúa mà bằng từ ngữ đơn giản và sáng tỏ, thực là khó. Mà nhà thơ Xuân Văn đã rất bạo dùng những từ ngữ thật đơn giản mà sống động, ấy là cái đơn giản siêu việt thời gian. Phải có tu từ học vững chắc, có thi pháp học tinh tế lọc lỏi, và có phương pháp sáng tác dày thể nghiệm, mới mang nổi tinh thần Sứ Điệp của Ngôi Lời.
Cái nhụy của Thơ
Cái nhụy của Lời,
Ở trong nhụy tâm hồn của nhà thơ Xuân Văn.
Nói gọn, theo ý tôi, Sứ Điệp Tình Thương là một đóa hoa thơm có nhụy… Đọc những trang thơ này tưởng như là giản dị nhưng thực sự rất lắng đọng với chiều sâu bao la. Trên hành trình tìm tới Vô Hạn, qua mỗi chương đoạn sáng tác là một trạm nghỉ. Ta hãy cùng tác giả đi tiếp, ta sẽ càng thấy sáng tỏ tình thương từ Đấng Sinh Thành, từ Đấng Tự Hữu. Từ đâu mà thấy, hay từ trong ta? Xin ai đó cứ đọc, nhẫn nha mà đọc những dòng tình thương này, là sử dụng lý trí, phân tích văn chương. Bởi vì một khi ta đã nhận biết, coi trọng cái Tâm là thực thể, hay nói khác đi, coi tình thươnưg là thực thể của Sứ Điệp, thì ta sẽ thấy cái “thần” của tập thơ này, và ta sẽ hòa điệu cùng với cảm nghĩ và ấn tượng của những dòng thơ cổ điển, trong sáng, viết bằng chữ ngả của tác giả Xuân Văn.
Cụ Tiên Điền Nguyễn Du có viết: “Thác là thể phách, còn là tinh anh”. Tôi muốn nói khác đi một chút: “Sống là thể phách, chết là tinh anh”.
Nhà thơ của Sứ Điệp Tình Thương - Xuân Văn, dòng văn trong thơ mang Tin Mừng như nắng xuân kia – đi xa rồi nhưng để hồn bên ta: Tinh anh là đấy, của một con người với Tâm ư Đức, Chí ư Thiện. Trên hành trình tới Vô Biên, người đã về với Chí Thiện mà vẫn còn ở cùng ta với tập thơ Sứ Điệp Tình Thương này. Cũng như Nguyễn Du, Milárepa, Tagore… người bồ tát nghệ sĩ sống và sáng tạo trên hành trình tìm về Vĩnh Hằng, tìm về Vô Hạn, nên không có mất còn mà chỉ ở ngoài vòng sinh tử, giống như ánh sáng từ Đấng Tự Hữu vô thủy vô chung.
Nhà thơ Xuân Văn với dòng thơ tình, anh không phải đã mất. Vâng, không có chết, cũng không có mất, mà chỉ là khuất bóng. Mất hay là hóa? Chính là Hóa trong đời siêu việt để hoán cải sự sống như là Phục Sinh.
Bàng sỹ Nguyên

PHẢNG PHẤT MỘT HỒN THƠ

Thi sĩ Lê Quý Long

Như đâu đây… hay trong tôi, mãi phảng phất một hồn thơ? Hồn thơ ai đó… đã ướm nắn họ thành người thơ! Người thơ và hồn thơ mãi gắn bó, quấn quýt, say đắm bên nahu. Hẳn sẽ có một quí tử, một thi phẩm chào đời.

1. Hồn thơ trong người thơ

Chiếc áo dòng của cha giáo, ngày nào đã từng “thướt tha” bên bao lơn, trên tầng một (Tiểu Chủng Viện Làng Sông), từng phất phơ bay màu trắng sau những cây Sao xếp thành hàng, cùng vui đùa với gió; dáng đi đi lại lại của một cha xứ nơi miền sơn cước hữu tình ( giáo xứ Phú Hương – Đà Nẵng)… và rồi, về chiều, “cánh chim” vội vàng lao vút trở lại với đất mẹ (rời Đà Nẵng, về giáo phận Qui Nhơn), sà xuống trên đồng Mằng Lăng, Tuy Hòa! Trong tôi, một chút băn khoăn nào đó, cũng đã trải dài theo năm tháng, thương “người thơ” mãi không đuổi kịp hồn thơ… tưởng chừng như đã đánh mất.
Nhưng không, bên dòng sông Ba thân thương, họ (người thơ và hồn thơ) đã gặp nhau, sung sướng ôn lại thời Cựu ước, nghiền ngẫm Mầu nhiệm Nhập Thể… cất cao lời chúc tụng, ngợi ca Đấng Toàn Năng, mang hết tâm tình mình chuyển tải Kinh Thánh vào thơ, những lời thơ mượt mà, dịu ngọt… cũng bay cao theo ơn Cứu Độ, muôn đời sau còn mãi âm vang, sáng rực một Sứ Điệp Tình Thương.

2. Hồn thơ trong tác phẩm

Sứ Điệp Tình Thương, hiển nhiên là một tác phẩm diễn ca, diễn ca với thể loại lục bát. “Lục bát”, với người Việt Nam, ai ai cũng có thể sáng tác được! Nhưng để những câu Lục bát được xếp vào thơ, quả là rất hạn chế, nhất là trong lãnh vực “diễn ca”! Thế nhưng, Sứ Điệp Tình Thương, nội dung của Kinh Thánh vừa “cứng” vừa “khô”… vẫn cho ta những bất ngờ:
Sứ Điệp Tình Thương là một thi tập:
Lời trăn trối của Đức Kitô trên thập giá, đã hơn 2000 năm, mà nghe sao như đang hiện tại, đang xảy ra trước mắt, đang rót vào tai chúng ta tâm trạng buồn đau, rất thực tế của bao nhiêu người:
Một mình trong cõi bao la
Lẻ loi như cánh sao sa cuối trời!
(câu 8.997,8990)
Xót xa biết mấy! Nỗi niềm “lẻ loi” nơi “cuối trời”, Đức Maria lòng đau như cắt, khi nhìn con yêu dấu của mình sắp tắt thở:
Ai ngăn nổi giọt lệ thầm,
Ai cầm nổi máu tim bầm ứa ra!
(Câu 9.091. 9092)
Ai chưa một lần âm thầm rơi nước mắt, làm sao hiểu được những “giọt lệ thầm”! những giọt máu cuối cùng cũng đã “ứa ra” hết cho nhân loại, từ trái “tim bầm” của Đức Kitô. Phải chăng, cùng với một hình ảnh ấy, hồn thơ cả một đời bị nén lại trong tim, đã đến lúc không thể “cầm” được nữa, cũng đã “ứa ra” cho đời.
Và từ đây, “người thơ”, muốn “lân la” với nàng thơ, “thăm dò” để được làm “quen”, để được làm thì sĩ:
Lân la ướm tiếng thăm dò
Không quen, chung một chuyến đò… cũng quen
(Câu 697, 698 trang 43)
Đức Giêsu đã mạnh dạn tiến về một thành, dù nơi đó Ngài sẽ chịu khổ nạn. Cũng thế, nhà thơ đã mạnh dạn hướng vào Kinh Thánh… để diễn ca:
Tiến lên, đừng sợ hiểm nghèo
Cuộc đời dày đắc suối đèo chông gai.
(Câu 5.417, 5.418 trang 227)
Để làm gì:
Thương ai một chút gọi là
Để thương để nhớ đậm đà mai sau.
(Câu 6.561, 6562, trang 271)
Có lẽ, trong đời, nhà thơ không mấy vui, cho dầu đã “thoát tục”, những ưu tư về lẽ sống, những thắc mắc về “ConTạo xoay vần”… vẫn còn đó:
Thời gian bay thẳng hay cong
Mà sao ngày tháng xoay trong vòng tròn
(Câu 6.665, 6.666 trang 275)
Diễn tả nỗi đau của Đức Giêsu trong một đêm lạnh nơi vườn Dầu, nếu không là băng giá của cuộc sống, làm sao ai có thể thấu được:
Khí đêm bốc lạnh như băng
Cú sầu đưa giọng nghe văng vẳng sầu!
(Câu 7.505 câu 7506 trang 307)
Và nỗi sầu hơn hết là thiếu người “chia sẻ” khi “tâm sự bời bời”:
Ngổn ngang tâm sự bời bời
Lấy ai chia sẻ, ngỏ lời với ai…!
(Câu 7609, 7610 trang 311)

Đã “phảng phất” chúng ta không thể nào đuổi bắt hết được! Xin mời các bạn, chúng ta cùng nhau dần dần tìm kiếm đó đây, trong nếp sống đời thường của tác giả, hoặc trong tác phẩm Sứ Điệp Tình Thương.
Với bóng dáng của cuộc đời như thế, với tâm tình và hồn thơ như thế, tưởng cũng rất phù hợp với tên gọi của tác giả: linh mục Nguyễn Xuân Văn.

***
Sứ Điệp Tình Thương là một bản trường ca.
Xuyên suốt tác phẩm, gần một vạn câu thơ, nhà thơ đã chu đáo và rất chu đáo cho gieo vần với nhau một cách đầy đủ và phong phú! Với 9764 câu thơ Lục bát, đã đúng và đủ 9763 cặp vần. Sáu phần sách riêng rẽ, 220 nội dung khác nhau, những cặp vần tưởng chừng không cần thiết phải lưu tâm, vẫn được tác giả cho gieo vần với nhau một cách thận trọng và duyên dáng.
Tiệc cưới Ca na và việc Đức Giêsu quở trách, đuổi quân mua bán trước đền thờ, là hai câu chuyện hoàn toàn khác biệt! Thế, nhà thơ vẫn sẵn sàng “cài” vào giữa hai “va-gong” ấy một cái “móc” thật vững chắc:
………… mấy ngày xả hơi (câu 792, trang 46)
Vượt qua ngày lễ đến nơi (câu 793, trang 46)
Hoặc sau câu chuyện nói về người đàn bà ngoại tình đến chuyện Đức Giêsu thông báo Ngài là ánh sáng thế gian:
Đại ân không thể dùng lời tạ ân. (câu 3690)
Đợi cho thiếu phụ lui chân (câu 3691)
Thậm chí giữa hai phần sách, phần Năm và phần Sáu, phần trước, bàn về Sự Chết; phần sau luận về Sự Sống lại của Đức Kitô, vẫn được tác giả cho “liên tục” với nhau thật tài tình:
… gác quanh đêm ngày (câu 9.188, trang 371)
Các bà từ lúc mất Thầy (câu 9.189, trang 371)

Với sự gieo vần rất chặt chẽ và thật là phong phú, liên tục từ câu thứ nhất cho đến câu thứ chín ngàn bảy trăm sáu mươi bốn, câu cuối cùng của thi phẩm, cho phép chúng ta còn có thể gọi Sứ Điệp Tình Thương là một bản Trường ca, Trường ca Hằng Sống, Trường ca Cứu Độ! (Bản trường ca dài thứ nhì, sau Trường ca Xuyên Việt (9.886 câu) của nhà thơ Nguyễn Thời.
Đường đường là một bản Trường ca, đường đường là một thi tập, Sứ Điệp Tình Thương đã đủ tư cách đứng chung với các tác phẩm văn chương khác trong nền văn học nước nhà.
Nhưng, bàn về Sứ Điệp Tình Thương, có quá sớm lắm chăng? Theo thiển ý, cũng nên chờ những cảm nhận của các thế hệ đọc trong mai sau, không muộn. Dù là gì, trong vườn thi ca Việt Nam, đã trổ thêm một bông hoa thơm và đẹp : Sứ Điệp Tình Thương.

Sài gòn 4.3.2 Lê Quý Long

VÀI NHẬN XÉT NHỎ VỀ QUYỂN “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”

Học giả Vũ Văn Kính
Đọc Sứ Điệp Tình Thương, chúng tôi thấy lối hành văn của tác giả Nguyễn Xuân Văn giống lối hành văn trong Đoạn Trường Tân Thánh tức Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, khiến chúng tôi muốn làm thử một vài so sánh nhỏ để tìm hiểu thi tài của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn .
Truyện Kiều được phóng tác từ một tác phẩm chữ Hán. Quyển “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân chỉ là một tiểu thuyết bình thường nhưng với ngọn bút tài tình của Nguyễn Du đã biến thành một tác phẩm lục bát thơ nôm hoàn toàn Việt Nam, đã nổi danh trên thế giới…(…)
Còn “Sứ Điệp Tình Thương” thì nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn đã soạn từ Kinh Thánh Lời Chúa, thành thơ, dài gấp ba lần truyện Kiều, tức 9764 câu . (…)
Đây chúng ta thử so sánh hai tác phẩm thơ lớn này xem cách sử dụng ngôn từ và thi văn của hai tác giả Nguyễn Du Nguyễn Xuân Văn giống nhau thế nào?
Cách sử dụng tiểu đối từng câu sáu chữ hay tám chữ, qua 2354 câu Kiều, ta thấy tiểu đối nhan nhản, thật tài tình, kỳ diệu:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần”
“Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang”
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”
“Làn thu thủy nét xuân sơn”
“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
“Sắc đành đòi một tài đành họa hai”
“Lễ là Tạo mộ, hội là Đạp thanh” v…v
Trong “Sứ Điệp Tình Thương”, nhà thơ linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn cũng đã sử dụng ngôn từ không kém phần tuyệt diệu. Ta hãy xem một số câu có tiểu đối như:
“Như nanh sói, như vuốt hùm”
“Cho người mất phúc, cho đời mất an”
“Có đền thờ Chúa, có bàn dâng hương”
“Mượn oai mẫu quốc, mượn hồn Đế vương”
“Máu tô rõ nét, lệ sa nghẹn lời”
“Bên ông bảy chục, bên bà sáu mươi”
“Chịu câu khinh bạc, nhịn lời mỉa mai”
“E lời tiên báo, ngại mình cao niên”
“Vẻ vang phía mẹ, rỡ ràng bên cha” v…v.
Văn tả người Nguyễn Du tả Thúy Vân:
“Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười, ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc, tuyết nhường mầu da”…
Chỉ 4 câu thơ lục bát mà tả được Thúy Vân từ nét mặt đến tiếng cười, giọng nói thì thật là tài tình. Lời óng ả, chải chuốt, thanh lịch mà còn có cả phần hiện thực nữa, thật tuyệt vời. Còn Nguyễn Xuân Văn tả Đức Mẹ khi nhận lệnh Truyền tin:
Có Trinh Nữ đẹp như hoa,
Trắng ngà trong ngọc, nết na dịu dàng.
Ma-ri-a mỹ danh nàng
Vốn dòng vương giả thuộc hàng trâm anh
Trăng trong mười sáu xuân xanh
Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông
Dung nhan rực rỡ vầng hồng,
Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương”.
Cũng như Nguyễn Du, lối văn tả người của Xuân Văn thật tuyệt vời, văn chương bóng bẩy mà cũng có chất hiện thực mới tài tình làm sao. Chỉ mấy câu thơ ngắn gọn mà cho độc giả thấy cả hình dung và tính tình người thục nữ.
Khi tả tiếng đàn của Kiều, Nguyễn du đã dùng bốn câu liên tiếp có bốn âm “tiếng” để nói lên tiếng đàn của Kiều đủ loại :
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như tiếng suối mới sa nửa vời,
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.
Thật tài tình khi lấy tiếng đàn so sánh với những hiện tượng thiên nhiên như tiếng suối sa nửa chừng, tiếng gió thoảng, tiếng mưa sa, thật còn gì hơn được nữa. Còn Sứ Điệp Tình Thương khi nói về những kẻ tội lỗi sẽ phải khốn, thì dùng bốn chữ khốn trong một đoạn thơ ngắn, đã nhấn mạnh đến nỗi khốn khổ của những kẻ tội lỗi :
Khốn đời giàu có các ngươi,
Thú vui đã đủ, ngày vui đã đầy.
Khốn đời dư dật no say,
Mai sau đói khát đắng cay đời đời.
Khốn cho kẻ mảng vui cười,
Buồn phiền khóc lóc một nơi cả ngày.
Thích người ca tụng khốn thay,
Kẻ gian chỉ được khen hay một lời.”
Truyện Kiều và Sứ Điệp Tình Thương là hai thi phẩm tuyệt vời của Nguyễn Du và Nguyễn Xuân Văn. Truyện Kiều là chuyện của người đời, Nguyễn Du phóng tác để đem tình ý của mình và của đời vào thơ, nên có thể dễ tìm ý, tìm tình, tìm âm đem vào thơ. Còn Sứ Điệp Tình Thương là diễn Lời Chúa đã có sẵn trong Kinh Thánh, nên khi diễn ý thì nhà thơ phải theo sát ý, bởi đó khó chọn từ ngoài đưa vào cho thích hợp mà phải lựa chọn những ý những lời trong đó mà tạo thành thơ. Bởi đó thỉnh thoảng nhà thơ linh mục Xuân Văn đã khéo dùng lời dùng ý của mình mà xen vào những đoạn thơ cho nó nối nhau liên tục không đứt đoạn, không lạc vận, mà ý vẫn liên tục không lạc đề, không đi xa ý trong chính văn. Những đoạn đó tác giả đều cho in chữ ngả để dễ phân biệt với trình thuật Kinh Thánh. Ta hãy thử xem đoạn thơ mà tác giả Xuân Văn đã xen vào giữa hai sự kiện: Một là chuyện “Người gieo giống”, cuối đoạn là hai câu:
Có tai nghe được thì nghe
Môn đồ chợt tĩnh cơn mê quay thuyền”.
Hai là câu chuyện “Hạt cải” bắt đầu bằng câu:
“Thế rồi có những hôm nào,
Chúa dùng thí dụ giảng vào đôi nơi
Rằng xem câu chuyện Nước Trời
Khác chi hạt cải được người đem gieo…”
Nếu cứ để câu cuối sự tích người gieo giống: “Môn đồ chợt tỉnh cơn mê quay thuyền” rồi bắt đầu chuyện hạt cải bằng câu: “Thế rồi có những hôm nào” thì âm hôm nào không thể vần với câu cuối chuyện người gieo giống “Môn đồ chợt tĩnh cơn mê quay thuyền”. Từ âm thuyền ở cuối đoạn trên và âm nào mở đầu câu chuyện hạt cải ở dưới, nhà thơ linh mục đã khéo chen vào cuối đoạn người gieo giống bằng hai câu thơ lục bát:
Đường về ai nấy lặng yên,
Sóng lòng sôi động triền miên dạt dào”
Để rồi mở đầu đoạn hạt cải bằng câu:
“Thế rồi có những hôm nào
Chúa dùng thí dụ giảng vào đôi nơi”.
Cách buông vần thật khéo léo. Cứ vậy cả quyển truyện thì nhiều lắm, vì trong 9764 câu thơ có rất nhiều đoạn nhà thơ Xuân Văn đã xen vào cả một đoạn thơ dài mà vẫn không lạc ý, lại còn làm đậm thêm ý nghĩa, tình tiết của đoạn thơ mới tài tình. Ta hãy xem đoạn thơ sau đây, giữa đoạn kể về Đứa con hoang đàng:
“Rủi gặp ông chủ kiết keo,
Thì đành nhịn đói, nằm queo mấy ngày
Nhục thay mà cũng đáng thay,
Mình làm mình chịu, còn cay nỗi nào?
Trời quê xinh đẹp biết bao,
Bình minh rực rỡ, trăng sao ngời ngời.
Nhà mình đầm ấm vui tươi,
Nụ hôn của má, tiếng cười của cha.
Ôi trời! Ôi mẹ! Ôi cha!
Đứa con bất hiếu nay đà biết thân
Tội con đáng chết ngàn lần,
Đời con bạc ngãi vong ơn quá nhiều.
Con ân hận biết bao nhiêu,
Quả tim chảy máu, chảy theo dòng sầu.
Con buồn cho tóc bạc đầu,
Ngày xanh tàn tạ, hết màu hoa tươi.
Cha ôi! Con biết tội rồi,
Thân tàn ma dại, đền bồi làm sao!
Lòng dù đêm ước, ngày ao,
Mặt nào con dám bước vào nhà cha?
Ví dù cha chẳng thứ tha,
Thân con rồi nữa, biết ra thế nào?
Mai sau dù có làm sao,
Cũng liều một chết trở vào đường ngay.”
Hai mươi bốn câu thơ trên đây là của tác giả chen vào đoạn vẫn làm cho đoạn văn thêm rõ nghĩa và người đọc dễ thấy được sự việc hơn là cứ để nguyên lời Kinh Thánh. Tuy một đoạn dài (24 câu thơ) mà vẫn giữ được ý của sự việc, không bị gián đoạn, thật tài tình. Hoặc đoạn sau đây cũng là cuối chuyện đứa con hoang đàng:
“Thế gian hùm lũ sói bầy,
Chim non xa mẹ, thơ ngây biết gì
Con buồn trách nó làm chi?
Cũng thì ruột thịt vất đi sao đành?
Mừng cho gương vỡ lại lành
Mừng cây úa lá xanh cành chứ con!
Còn trời, còn nước, còn non,
Còn người hối tội là còn niềm vui”.

Đấy là lời người cha bảo người con lớn nên giơ tay ra đón lấy đứa em hoang đàng đã trở về với gia đình, với tình thương của cha mẹ. Thật đáng phục tài thi ca của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn.
Kể thì nhiều lắm, nhưng trên đây chúng tôi chỉ xin trích dẫn vào đoạn ngắn ngủi trong một tác phẩm cả gần mười ngàn câu thơ, mà không bị lạc vận thì quả là tài tình thế nào. Chỉ một lần bước lên thi đàn mà ở lại đó mãi mãi với một thi phẩm đồ sộ, tinh vi, vừa mang tính thi ca dân tộc thuần túy, vừa chứa đựng một nội dung thanh cao, trong sáng, hướng thượng, nhà thơ linh mục Xuân Văn, theo thiển ý, đã tỏ rõ xứng đáng là một nhà thơ kiệt xuất, cụ thể là nhà thơ kiệt xuất của Lời Chúa, Lời của Toàn Chân, Toàn Thiện, Toàn Mỹ.
Hôm nay nhân kỷ niệm 100 ngày của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn từ giã cõi đời này về Nước Chúa, chúng tôi xin nghiêng mình kính cẩn trước di ảnh người và nguyện xin Thiên Chúa ân thưởng người bằng triều thiên vinh quang Thiên Quốc.
Vũ văn Kính

CÓ MỘT XUÂN VĂN DÍ DỎM


Nhạc sĩ Hải Triều

Có một điều dễ thương lạ lùng trong tác phẩm “Sứ Điệp Tình Thương” của Xuân Văn, đó là những câu thơ, những từ ngữ, những danh xưng dí dỏm mà người đọc như tôi chẳng hề ngờ, rằng sao tác giả lại nghĩ ra được những câu thơ sáu tám vui đùa như vậy. Tôi đọc và tôi đã nhiều lần cười một mình thích chí với những câu ý vị sau đây (Trích Sứ Điệp Tình Thương tái bản 2001):
Trang 27 câu 324, người ta chê trách Chúa Giêsu và Đức Mẹ:
“Nhà quê mà kiếm thành Vua nực cười”
Trang 57, câu 1068, Hê-rô-đê được gọi tên mới:
“Rằng: quan đã bị “râu dê” cầm tù”
trang 66, câu 1308, thái độ coi thường của dân làng về phép lạ:
“Có người xin Chúa trổ tại
Cho bà con thấy một vài phép chơi”
Câu 1323, Chúa trả lời:
“Ích-diên thừa kẻ góa chồng
Có ai đáng mặt rước ông mà hòng”
Trang 72, câu 1459, tông đồ thì:
“Đứng đầu là cụ Phêrô
Sau cùng là gã phản đồ Giu-đa”
Trang 101, câu 2196, môn đệ tỉ tê:
“Sao Thầy lấy chuyện thôn quên dạy người?”
Trang 151, câu 3448, phải nộp thuế thì môn đệ:
“Có nghề câu cá lo chi không tiền”
Trang 153, câu 3492, Chúa mắng môn đệ:
“Chẳng hay đầu óc làm bằng thứ chi?”
Trang 157, câu 3577, nghe Chúa nói sắp từ biệt, dân bản xứ thắc mắc :
“Đi đâu nói chuyện giã từ,
Phải chăng theo bọn di cư nước ngoài?”
Trang 180, câu 4025, Mát-ta than về Maria
“Thầy xem hiền muội kỳ chưa”
Trang 205, câu 4855, người bạn “rầy rà”, (chắc bị bão lụt ở Huế):
“Có ông bạn ở miền Trung
Lần đầu mới bước đến vùng này thôi”
Trang 206, câu 4889, quan tòa bị bà góa quấy rầy:
“Nhưng ta bị giọng lần đầu
Làm cho nhức óc nhức đầu chết thôi,
Mai ta xét xử cho rồi,
Kẻo nghe con mẹ ỉ ôi hoài hoài”
Trang 207, câu 4906, về người Pha-ri-siêu:
“Thứ công chính giả dập dìu như mây”
trang 210, câu cuối (4996), phú hộ chết:
“Cả làng đưa lão đi chơi suốt ngày”
Trang 220, câu 5241, chủ vườn nho triết lý:
“Ngoài ra tôi thích từ bi
Ăn gừng trả mật phiền gì anh đâu”
Câu 5248:
“Mắt anh mang kính độ nào?
Thấy tôi tử tế nhìn vào xốn xang”
Trang 247, từ câu đầu trang (5901-5940) (xin xem sách)
Trang 250, câu cuối (5998), thử Chúa – để rồi:
“Biết vàng cao giá, lửa thôi thử vàng”
trang 258, câu 6197, đừng kêu ai là “Cha” vì:
“Người ta ai cũng người ta”
Trang 274, câu 6625, 6626, 6632, tả Giu-đa:
“Thằng nào bộ tịch ác ôn?
Đi đâu lấp ló khôn hồn xưng ngay”
Giu-đa mặt dạn mày dày
Chào thưa nham nhở vòng tay đứng trình…”
“Cười lên hăng hắc gan lì thưa ngay:
Trang 291, câu 7075, Chúa đi chịu chết:
“Thầy không còn nói được nhiều
Tên trùm hỏa ngục đang liều đến đây”
Trang 313, câu 7657, thấy môn đồ mê ngủ, Chúa nói:
“Rằng : thôi cứ ngủ đi cơ!”
Trang 362, câu 8956, lý hình dưới chân thánh giá:
“Xúm nhau khẽ đá đánh cờ giải khuây”
Trang 376, câu 9249, Gioan và Phêrô chạy thì:
“Thanh niên tới trước, “ông già” còn sau”.
Trang 387, câu 9527, “yêu” và “tin” đi đôi:
“Bàn tay nào thiếu tình thương,
Hãy đưa ra thọc vào nương long Thầy”
Những đoạn bi thương buồn bã như hồi người đàn bà tội lỗi ăn năn khóc lóc dưới chân Chúa, Đức Mẹ dưới chân thánh giá, Đức Mẹ khóc con thảm thương, tha thiết đã đành, cảm động đến phải đặt bút dệt Văn đặt vào các mặch văn kể chuyện rất bình thường, giản dị nhưng đọc lên thấy hấp dẫn và lôi cuốn hơn, là nhờ tính dí dỏm hài hước của những câu, những chữ được ông cha già vui tính lấy làm thơ, khiến tôi cứ thích đọc đi đọc lại ‘Sứ Điệp Tình Thương” nhiều lần – Phúc Am đấy!
Xin thắp nén hương cảm mến, cám ơn.
Cố linh mục nhà thơ Phanxicô Xavie Maria Duce Nguyễn Xuân Văn
Xóm đạo 06.04.2002
Hải Triều

“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
CÁCH CHUYỂN TẢI LỜI CHÚA ĐẦY THUYẾT PHỤC

Phaolô Nguyễn Tiệm (Giáo xứ Đông Mỹ)

Kính thưa : Cha Hạt Trưởng Phú Yên và Quý Cha,
Thưa toàn thể Quý Vị.
Trước hết, con xin kính gởi đến (Đức Cha), quý cha và quý vị lời kính chào trân trọng nhất.
Nhân dịp “Lễ Giỗ Giáp Năm” của Cố Linh mục Thi sĩ Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, con xin phép được trình bày tâm tình cảm phục và biết ơn Cố Linh mục Thi sĩ, qua một vài cảm nhận thô thiển của mình đối với tập thơ “Sứ Điệp Tình Thương”, với chủ đề:
“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
CÁCH CHUYỂN TẢI LỜI CHÚA ĐẦY THUYẾT PHỤC
Thiên Chúa- Đấng đời đời Chân Thiện Mỹ đã thương ban Lời Người cho nhân loại.
Đây là hồng ân cao cả bởi Lời Chúa là Lời Tình Yêu, là nguồn Sự Sống và là “Mặt Trời chiếu rạng khắp trần gian”.
Diễn tả và loan báo “Tin Mừng” là bổn phận thiêng liêng của tất cả chúng ta.
Tùy điều kiện và cách thức từng người, Lời Chúa sẽ được tung gieo trong quảng đại quần chúng để mọi anh chị em lĩnh hội và đem ra thực hành.
Với bút pháp tài hoa, Linh mục Thi sĩ Phanxicô Xaviê đã cho ra đời kiệt tác “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG ” chuyển tải Lời Chúa một cách đầy thuyết phục.
Tập thơ đã rung động con tim, thu phục lòng người nhờ sự “phối hợp tuyệt vời giữa cái cao siêu của Lời Chúa và hồn thơ lai láng của thi sĩ”.
Lời Chúa dạt dào như sóng nước đại dương, êm đềm như tình quê thắm thiết để chúng sinh muôn nơi, muôn thuở chiêm ngưỡng và ca tụng Người :
“ Đây là “Sứ Điệp Tình Thương ”
Ngân vang muôn thuở, vấn vương muôn lòng”.
(Sđtt, Phi Lộ, trang 11)
Tác phẩm đã tạo cảm xúc, niềm say mê và đã thuyết phục người đọc bởi sự sáng tạo mới mẻ trong việc vận dụng ngôn từ, sử dụng mỹ từ pháp; nghệ thuật độc đáo trong tả cảnh, tả người, tả tình, thuật sự, chuyển mạch, dùng điển... “vừa đượm tính cách dân gian, vừa bộc lộ ý nghĩa sâu xa của giáo lý Kitô giáo”.
Chúng ta sẽ minh thị điều này qua thơ ca của tác phẩm.
Trước hết ta hãy nhận xét về tả cảnh :
Cái hay của nó là không rườm rà, tỉ mỉ. Thi sĩ đã phác họa, chấm phá vài nét đơn sơ nhưng cảnh nào cũng linh động khiến độc giả như nhìn rõ cảnh thực trước mắt và cảm thấy được cả cái thi vị của mình trước mỗi cảnh .
Đây là điểm thực sự hấp dẫn, cuốn hút người đọc.
Ta hãy thưởng thức cảnh huy hoàng xuân sắc, rộn rã hoa đăng trong ngày cưới:
“Ngày xuân chim hót hoa cười,
Nước non thêm sắc, mây trời thêm hương”
Ca-na chào đón tân nương
Tưng bừng pháo nổ, rộn ràng tiệc hoa” (Sđtt, c. 757-760)
Diễn tả vẻ đẹp của biển khơi, ngọn bút tài hoa phác họa:
“Mặt hồ như mặt lưu ly,
Cánh buồm nương cánh gió phi nhẹ nhàng
Từng đàn nhạn trắng bay ngang
Gọi nhau ríu rít về ngàn xa xôi”
(Sđtt, c. 2333-2336)
Đúng là bức tranh thủy mặc của một họa sĩ bậc thầy.
Lời thơ khi êm ái dịu dàng như lời ru của mẹ, lúc thiết tha đằm thắm như sóng nước vỗ bờ.
Ta hãy nghe lời cầu xin của dân lành mong đợi Ơn Cứu Độ như trời hạn trông mưa :
“Mây ơi ! Mây hỡi ! Mây ơi !
Cho mưa rơi xuống cho Người cứu dân”
(Sđtt, Bối cảnh Phúc Âm, c. 27-28)
Và đây, Đấng Cứu nhân, độ thế đã đến :
“Hài Nhi Con Chúa ra đời
Hang lừa rực rỡ như trời rạng đông”
(Sđtt, Chúa Giêsu giáng sinh, c. 349-350)
Để muôn dân tung hô, trời đất nhảy mừng :
“Than ôi Mầu Nhiệm ra đời,
Tin Mừng dậy đất, dậy trời là đây”
(Sđtt, Giêsu hiển linh, c. 475-476)

Nhờ thế nên :
“Đất khô gặp trận mưa rào
Cho lê nảy lộc, cho đào trổ bông”
(Sđtt, c. 1087-1088)
Những giai điệu thiết tha mà đằm thắm, mượt mà mà êm dịu làm xúc động và thu phục lòng người.
Khi tả cảnh “bóng ngả về tây” của ông lão Gia-cai, lời thơ như ngậm ngùi, luyến tiếc :
“Chim bay về núi tối rồi
Ngày xanh mấy thưở vãn hồi cho đâu?
Sương chiều trắng điểm mày râu
Gió chiều gieo khúc nhạc sầu chơi vơi”
(Sđtt, Gioan tiền hô được tiên báo, c. 47-50)
Nếu tả cảnh, thi sĩ đã thuyết phục được người đọc, thì tả người tác giả lại lôi cuốn người đọc đến độ say mê :
Nhờ trí quan sát sâu sắc, Ngài đã ghi được những điểm đặc biệt của nhân vật định mô tả. Vì vậy, chỉ vài nét mà lột hết tinh thần của mỗi vai.
Xin nêu một vài ví dụ :
Khi diễn tả dung nhan kiều diễm của Đức Trinh Nữ Maria : Hoa thơm loan tỏa bay khắp đất trời, tác giả viết :
“Trăng tròn mười sáu xuân xanh,
Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông
Dung nhan rực rỡ vừng hồng
Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương”
(Sđtt, c. 101-104)
Khi tả tình, để thuyết phục người đọc, nhà thơ đã dùng bút pháp sắc sảo, điêu luyện để diễn tả một cách sâu sắc, tinh tế cảnh vật, nhân vật hoặc sự vật. Mọi hình thức diễn tả được áp dụng một cách triệt để như: điệp ngữ, ngoa ngữ, đảo ngữ, tỷ ngữ, gợi hình, gợi thanh, bóng bẩy, hoa mỹ, nhân cách hóa sự vật ...
Ta hãy xem có từ nào bóng bẩy hơn nữa không, khi đọc :
“Hoa trinh giữ vẹn hương trinh,
Vườn xuân nắng giãi thêm hình sắc xuân”
(Sđtt, c. 148-149)
Kế “dĩ đào vi thượng sách” cũng được tác giả vận dụng tài tình khi chuyển về quốc ngữ :
“Âm thầm tính chuyện bôn đào
Ba mươi sáu chước, chước nào hay hơn”
(Sđtt, Maria trinh thai, c. 281-282)
Có lúc, tác giả cũng dùng lời bình, một lời đầy tâm phục :
“Gối rơm, nệm cỏ thương thay
Non vàng núi ngọc sánh tày được sao
Khăn sô so với long bào
Lều tranh sánh với trời cao lạ lùng
Nghĩa gì đâu miếng đỉnh chung
Hoa trôi mặt nước khói bung lưng trời”
(Sđtt, c. 474-479)
Thật là sắc sảo tinh tế gây cho ta nhiều cảm xúc. Lời văn thật sự lôi cuốn ta, thuyết phục ta.
Tả loài quỷ quái, tác giả viết :
“Có tên ma quỷ hỗn hào
Lò dò đi tới hỏi chào lăng nhăng”
(Sđtt, Ăn chay bị cám dỗ, c. 641-642)
Đã cực tả bộ dạng và hành vi thô lỗ nanh sói, vuốt hùm của bọn tà ma.
Hình ảnh cậu con trai hoang đàng sau khi bị kẻ xấu lừa phỉnh cũng được phác họa rõ nét :
“Bấy giờ cậu mới đâm lo,
Đầu đường, cuối chợ co giò chạy rông”
(Sđtt, c. 4701-4702)
Có mấy chữ mà tả được cả hình ảnh lẫn tâm trạng hoảng loạn của người “giật mình tỉnh mộng trắng tay bao giờ” .
Đây là lời van nài tha thiết, sám hối tự tình của người đàn bà tội lỗi thân thưa cùng Đức KITÔ :
“Thầy ôi ! cứu vớt đời con !
Cho vành trăng khuyết được tròn như xưa
Con cầu cho kiếp sống thừa
Được ơn thương xót gặp mùa hồng ân”
(Sđtt, c. 2055-2058)
Giờ đây, nàng chỉ biết :
“Trông vào lượng cả từ nhân,
Khỏi bề sống đục được phần thác trong”
(Sđtt, c. 2075-2076)
Và lời thành tâm thống hối đã được đền đáp:
“Tội con dù có muôn vàn
Thầy tha thứ hết hãy khoan tâm về”
(Sđtt, c. 2126-2127)
Cảm động biết bao ! Nhân hậu biết bao ! Xót thương dường nào!
Văn như thế là cảm động lắm thay!
Âm điệu mượt mà đằm thắm đã cuốn hút lòng người.
Giai điệu của lời thơ khi cao vút như trăng sao, khi trầm lắng như sóng nước vỗ bờ, khi mượt mà đằm thắm như hương sắc xuân sang làm say lòng người, thu phục nhân tâm.
Nói tóm lại, qua một số dẫn chứng trên đây, ta thấy “tập thơ tràn đầy sức sống và đượm hương sắc thi vị ”.
Tiếp cận với “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” ta như được :
- Một chân trời mới hiện ra
- Rực rỡ huy hoàng không còn mờ mịt
(Sđtt, tr. 10)
Lời thơ êm dịu như ru :
“ Lời sao thắm thiết tình quê
Nghe rưng nước mắt nghe mê mẩn người”
(Sđtt, tr. 10)
Để Suối Nguồn Hạnh Phúc tuôn chảy vào mỗi con tim, khối óc chúng ta:
“Lời sao huyền diệu làm sao
Như thâu tim óc như vào thịt xương”
(Sđtt, tr. 11)
“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”, một phương thức chuyển tải Lời Hằng Sống của Chúa cách tuyệt vời, đã đã rung động lòng tôi, đã thuyết phục lòng người.
Đối với cá nhân con, “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” là pho sách quý, có giá trị văn chương tuyệt đối, chiếm vị trí xuất sắc trong trường văn trận bút.
Với lòng kính trọng và ngưỡng mộ, xin được dâng Người – Linh mục Thi sĩ bài thơ :
“Sứ Điệp Tình Thương” để chúng con
Vần thơ còn đọng nỗi thương tròn
Kính Chúa, thêu hoa lời ngọc quý
Yêu người, dệt gấm ý vàng son
Nhân dịp này, xin phép được kính tặng quý cha và quý vị bài thơ :
CẢM TẠ ƠN NGƯỜI-THIÊN CHÚA
Con xin tạ ơn Người – Chí Ái
Ánh hào quang sáng mãi non sông
Con xin tạ Lời Người – Lẽ Sống
Soi lòng con luôn được sáng trong
Con xin được quỳ xuống chân Người
Không phải để xin ơn
Bởi thân con bé mọn
Chưa làm Chúa vui
Ngày tháng mỏi mòn
Chỉ xin Chúa ban cho sự sống
Mạnh đôi chân và cường tráng tâm linh
Để ngợi ca danh Chúa hiển vinh
Sống Lời Chúa bớt điều lầm lỗi

Đời con đó, đêm trường u tối
Chúa cho con ánh đuốc soi đường
Lòng con đó rối bời trăm mối
Chúa từ bi mở lối yêu thương

Lời Cha cao trọng- chí nhân
Kính Cha xin được muôn phần vì Cha
Tình người vương vấn thiết tha
Lòng con xin được nở hoa dâng Người.

(Thân lạy Đức Cha,)
Kính thưa quý cha,
Thưa quý vị,
Do kiến thức còn hạn chế nên những điều trình bày trên đây của con chắc còn nhiều khiếm khuyết.
Kính mong quý cha chỉ dạy và quý vị góp ý để việc sống và loan báo “Tin Mừng” của chúng con ngày một tốt hơn.
Nguyện xin Thiên Chúa-Tác Giả đích thực của “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG” qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria chúc lành cho quý cha và quý vị.
Xin cảm ơn và kính chào quý vị.

ĐỨC MARIA TRONG THƠ VÀ NHẠC CỦA THI SĨ XUÂN VĂN

Linh mục nhạc sĩ Ánh Đăng

Kính thưa Quí Cha, Quí Tu Sĩ Nam Nữ, Chủng Sinh,
Kính thưa quí vị
Thưa các bạn,
Như chúng ta đã biết cha F.X. không chỉ diễn thơ toàn bộ Phúc Am gồm 9.764 câu thơ lục bát qua cuốn “Sứ Điệp Tình Thương” xuất bản năm 1998, mà Ngài cũng đã diễn thơ “Cuộc đời Đức Maria theo Thánh Kinh và Thánh Truyền” vừa được 1.202 câu thơ lục bát thì được Chúa gọi về.
Ngoài hai công trình vĩ đại nói trên Ngài cũng được rất nhiều người mến mộ vì những bài hát Ngài cùng sáng tác với Anh Thiều dưới bút hiệu Văn Thao. Giáo dân giáo phận Qui Nhơn những người lớn tuổi không mấy ai mà không thuộc những bài hát của Anh Thiều và Văn Thao. Quả thật rất nhiều bài hát của Anh Thiều và Văn Thao đã trở thành phổ thông khắp các tỉnh từ Nam – Ngãi – Bình – Phú – đến Nha Trang – Kontum từ thập niên 1950.
Riêng tôi, khi tôi còn bé – mới lên 8 lên 10 thôi - lại ở một giáo họ nhánh chỉ nghe lóm người lớn tập hát mà đã thuộc thuộc rất nhiều bài hát mà sau nầy khi vào tiểu chủng viện Làng Sông mới biết là của Cha F.X. Đó là các bài: Đây Phút Sống, Giết sê ma ni, Nơi Tôn Nhan ( Xin Giúp Con)… Nhưng cái ấn tượng mạnh nhất không bao giờ xoá nhoà khỏi tâm trí của ngày đầu tiên vào chủng viện : Giờ kinh hôm ấy toàn thể tiểu chủng viện dâng mình cho Thánh Quan Thầy Giuse, khi nghe cả nhà thờ hát bài “ “Lạy Thánh Quan Thầy” ( Anh Thiều – Văn Thao)…Tôi đã nổi da gà vì xúc động…..bài hát hay quá là hay và nhất là lúc ấy mình còn là chú lính mới tò te - như người ngoài cuộc – lần đầu tiên được nghe các chú nhà trường hát cộng đồng thật là sốt sắng và cảm động…. Các Cha cao niên, nhất là các cựu chủng sinh Làng Sông lớn tuổi vẫn thường nhắc đến các bài “ Mẹ ơi thương đến Qui Nhơn Mẹ hỡi; “Mẹ ơi quay nhìn bức tranh điêu tàn” nhất là bài “Bóng con trở về”.

Kính thưa quí cha,
Thưa các bạn,
Lòng kính mến Chúa và Đức Mẹ đã thúc giục cha F.X. diễn thơ toàn bộ Phúc Âm và cuộc đời Đức Maria. Lòng kính mến ấy đã được thể hiện rất rõ nét qua các bài hát mà Cha đã viết lời cho nhạc của Anh Thiều dưới bút hiệu Văn Thao kể từ thập niên 1950.
Trong ngày giỗ lần thứ nhất hôm nay, tôi xin chia sẽ - hay nói chính xác hơn - xin giới thiệu về đề tài “Đức Maria trong cuộc đời cha F.X. qua các bài hát về Đức Mẹ mà Cha đã viết lời cho nhạc của Anh Thiều.
Nếu lòng kính mến Chúa đã đựơc thể hiện qua các bài “Chúa ở đây”; “Giết sê ma ni” nhất là qua bài “Đây Phút Sống” thì lòng kính mến Mẹ Maria của cha F.X. được cha biểu lộ qua rất nhiều bài hát về Mẹ đặc biệt bài “ XIN GIÚP CON” tức “NƠI TÔN NHAN”.
Cha F.X. đã phó thác Hội Thánh Công Giáo, Dân Tộc Việt Nam, Giáo Phận Qui Nhơn và cách riêng Ngài phú dâng trọn vẹn cuộc đời của Ngài, với mọi khoảnh khắc thời gian với mọi hoàn cảnh của cuộc sống trong cánh tay quyền năng của Mẹ Thiên Chúa.
Lo lắng băn khoăn trước nguy hại của các tà thuyết Cha F.X. đã không ngần ngại kêu cầu lên Mẹ: “Mẹ ơi xem chừng quỷ vương ra đời…Mang theo bao tà thuyết rải khắp nơi…Mẹ thương nước Việt chúng con ngàn năm. Xin chở che mau thoát vòng tối tăm…” ( Cảnh tình chúng con).
Đối với Tổ Quốc , và với Giáo Phận thân yêu trong thời kỳ đen tối của khói lửa chiến tranh, cha đã đau xót thốt lên: “Mẹ ơi quay nhìn bức tranh điêu tàn…Kia bao ngôi nhà thánh phải phá tan…”
Thương xót cho bao nhiêu đoàn chiên phải lâm cảnh lạc loài bơ vơ cha F.X.đã kêu cầu cùng “Mẹ cực thánh là Đấng không hề vương nhiễm tội... Cúi xin Mẹ thương đoàn chiên đây đó. Thiếu đấng chăn tan tác rất đau lòng. Muôn kẻ thù vây hảm quyết hành hung, Tông đồ Chúa xin Mẹ cho đông số…”
Trong đau thương phải xa rời Chủng Viện, như con chiên lạc đường mất hướng lang thang thất thểu trong rừng vắng cộng với những lo lắng băn khoăn cho đời dâng hiến không biết rồi đây sẽ ra sao!!! Cha F.X. đã viết lên những giòng lời ca không bao giờ quên cho nhiều người:
“ Bóng con trở về, từ nơi sao thưa trăng xế, từ chân mây đen dương thế. Bóng con trở về, Mẹ thấy bóng con về đây, Có lẽ Mẹ buồn ngất ngây” Để rồi:
“ Lòng con canh cánh, bao niềm nhớ nhung. Bao niếm nhớ nhung dưới trời cố hương. Trời hương xa cách, nước mây muôn trùng. Đời con chết trong chuổi ngày đau thương…”
Và có thể nói được rằng đối với cha F.X. đôi cánh tay đầy uy quyền của Mẹ luôn âp ủ bảo vệ những đứa con bé dại và sẳn sàng cứu giúp trong mọi nơi mọi lúc: Trong lúc cô đơn …xin giúp con…. Đời tội lỗi…xin giúp con…lúc ngặt nghèo và lúc ngã sa…xin giúp con…và nhất là trong giờ hấp hối….xin giúp con…
Kính thưa quý Cha,
Thưa các bạn,
Như tôi đã nói ở trên là tôi chỉ giớ thiệu về đề tài Đức Maria trong cuộc đời của cha F.X. đặc biệt qua các bài hát cha viết lời cho nhạc Anh Thiều.
Nói được rằng Mẹ Maria luôn luôn hiện diện trong cuộc đời của Cha. Để kết thúc, xin mượn mấy câu thơ sau đây trong kỳ tác thứ II bằng thơ lục bát của cha viết về” CUỘC ĐỜI ĐỨC MARIA theo Thánh Kinh và Thánh Truyền “ gồm 1202 câu cùng với niềm xác tín rằng Mẹ Maria cũng hằng ru cha F.X. và ru chúng ta như xưa Mẹ đã ru Giêsu, con Mẹ :

Ru con cho mộng cho mơ
Cho đời reo khúc nhạc thơ thanh bình
Ru con nên vóc nên hình
Nên nguồn hy vọng nên tình yêu thương.
Ru con khắc khoải canh trường
Gió mưa thổn thức tuyết sương ngậm ngùi.
Ru con con ngủ cho mùi
Một mai đem lại nguồn vui cho đời…”

Qui Hiệp, ngày 9 tháng 1 năm 2003
LM Giacôbê Đặng Công Anh

“SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”
TRÊN LỘ TRÌNH HỘI NHẬP VĂN HÓA

Thi sĩ Lê Đình Bảng

MỘT CHÚT TÂM TÌNH CỎ HOA
Thật ngẫu nhiên, tình cờ với Qui Nhơn, một miền đất cổ, giàu truyền thống mà nhiều lần tôi đã nghe biết. Có lúc trên đường ra một số tỉnh địa đầu giới tuyến, ra Bắc vào nam, đi ngang qua hoặc đỗ nhờ ở đây dăm ba ngày, một vài đêm chóng vánh. Ơ nhà thờ chánh toà, ở toà Giám mục cuối những năm 1960-1970, thời các Đức cha Phêrô-Phạm Ngọc Chi, Đức cha Đa-minh Hoàng văn Đoàn OP, và gần đây hơn là hôm được hầu chuyện Đức Thầy tiền nhiệm Phaolô Huỳnh Đông Các, nghe danh tính Ngài, tôi cứ liên tưởng tới bài cổ thi “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu (704-754) đời nhà Đường bên Trung Quốc. Hôm ấy, từ đây, ghé nhà mẹ Hội Dòng MTG Qui Nhơn, rồi đến trại phong Qui Hoà những ngày “Trại Hè Hoa Nhân Ai 1999) với các chị dòng Phansinh thừa sai Đức Mẹ. Buổi tối, một mình lang thang lên Ghềnh Ráng nghe sóng võ ngàn xanh reo để trò chuyện thơ thẩn với thiên tài bạc mệnh Phanxicô Assisi Hàn Mạc Tử mà tôi yêu đã yên nghỉ ở đây. Qui Nhơn trong mắt tôi buổi ấy, đơn giản chỉ có thoáng chốc bấy nhiêu.
Thực ra, Qui Nhơn giàu có vô cùng. Giàu truyền thống văn hoá. Giàu đức tin lòng đạo. Giàu cả tình người. Chẳng thế mà đã có một thời chưa xa lắm, khí thiêng sống núi nơi đây đã hun đúc nên những tượng đài cao ngất: những vị thánh như Anrê Phú Yên, Anrê Kim Thông, Đức GM Théodore Cuénot Thể; đã in đậm dấu vết đạo đức chân quê của chị em MTG Đàng Trong từ An chỉ, Gò Thị đến Phú Yên; những thầy cả nhà thơ Lữ Y-Đoan, Giuse Đặng Đức Tuấn… và nay là Lm nhà thơ F.X Nguyễn Xuân VĂn kính mến. Đúng là gươm lạc giữa rừng hoa, nên ở Qui Nhơn, ra ngõ gặp người đẹp, người hiền. Còn nhớ, cách nay ít lâu, trên từng câu số dặm dài để chuẩn bị cho Đại Hội La Vang 26.08.2002, mày mò trong thư viện Nhà Chung giáo phận Kontum, tình cờ tôi đọc được mấy tập báo cũ “Chức dịch thơ tín” và một số kinh sách rất cổ do nhà in Qui Nhơn ấn hành khoảng 1921-1923 gì đó. Như thế, cùng với Nazareth (Hồng Kông), Kẻ sở (Hà Nội), Phú Nhai Đường (Bùi Chu) và Tân Định (Sài Gòn), nhà in Qui Nhơn đã đứng vào hàng ngũ tiên phong của một cơ sở mang tính truyền thông công giáo này.
Lại ngẫu nhiên, tình cờ với Tuy Hoà, Phú Yên, miền đất nở hoa hồng trên máu của Thầy giảng phơi phới tuổi xuân Anrê Phú yên, nơi có vựa lúa trù mật vào bậc nhất của Trung bộ với đập Đồng Cam và sông Đà, núi Nhạn. Cứ tưởng những sợi tơ trời mong manh kia đồng hờ dễ đứt, những ký ức thoáng qua hồi nào sẽ nhạt nhoà, lãng quên. Ai ngờ, hôm nay, ngọn gió vô hình nào thổi tôi ngược đường về thành phố biển Qui Nhơn, qua điểm dừng là Tuy Hoà, Phú Yên. Những ngày cuối năm, giáp Tết Quý mùi (2003) thật hạnh phúc. Giời ạ! Quãng đường từ Phú Yên đi Sông Cầu, về Qui Nhơn đang hồi sinh, đẹp tuyệt vời. Dù gập ghềnh và bụi bặm vẫn không làm cho tôi quên được chuyến hành trình dọc theo ven biển từ Tuy Hoà, vũng Rô, cửa Đà Nông, đầm Ô Loan, vịnh Xuân Đài lên đỉnh Cù Mông, đổ dốc về thành phố Qui Nhơn đã chiều tà. Cảm ơn biển trời xanh thẳm. Cảm ơn núi rừng ngút ngát. Cảm ơn đầm vịnh kỳ vĩ, thâm u. Chiến tranh khói lữa đã đi qua. Cảm ơn những đồng đất tơ nhung lúa mùa con gái. Những xóm lưới, những vạn chài bập bềnh, lô xô. Thấp thoáng xa xa những bóng tháp Hời đỏ quạch hoàng hôn, một thuở nào Đồ Bàn rạng rỡ. Những đôi mắt u ẩn lần đầu nhìn nhau đã có đuôi. Những tấm lòng chân chất, hào hiệp của Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn mà tôi mới được gặp hôm nào khi Ngài chủ sự cuộc cung nghinh Thánh Thể tại La Vang, của cha sở nhà tổ chức mọi thắng lợi Giuse Trương Đình Hiền, của cha sở Đông Mỹ tuổi trẻ tại cao, của các chị MTG Qui Nhơn hiếu khách và của đông đảo nhân sĩ-trí thức-văn nghệ sĩ-chức việc-bà con nhà đạo mình từ khắp nơi tự về Tuy Hoà.
Vội vã đến và hối hả chia tay Qui Nhơn. Xin gửi lòng mình ở lại.
Cuối cùng là ngẫu nhiên và tình cờ với Sứ Điệp Tình Thương (SĐTT) và Nguyễn Xuân Văn (NXV). Bây giờ thì tôi đã hiểu được mối cơ duyên kỳ lạ ấy. Chung quy chỉ vì cái nghiệp làm thơ, yêu thơ Công giáo mà ra cả. Đã gọi là nghiệp chướng thì không sao tránh khỏi. Nó cứ vận vào, ám vào đời mình cho đến chết. Quả thực là tôi đã tìm hiểu và đã viết khá nhiều về Đặng Đức Tuấn, về Hàn Mạc Tử, những tài năng kiệt xuất đã gắn bó đời mình với Qui Nhơn. Và đến này thì lại trót “nòi tình yêu người đồng điệu” với SĐTT, với Lm nhà thơ NXV. Vâng, con đường thi ca, con đường thi ca công giáo đã dẫn tôi về Tuy Hoà, về Phú Yên, về lòng mẹ Qui Nhơn, những nơi chốn đã hoá thành tâm hồn tôi. Qui Nhơn đã đã ôm tôi vào lòng, nồng nàn hương đất, hương biển, hương nước và hương người Bình Định, đất võ Tây sơn. Thật ngẫu nhiên và thật tình cờ. Như một chuyện cổ tích giữa đời thường, như một chuyện mộng du, một viễn tưởng. Qua sông Đà núi Nhạn, qua dinh Trấn Biên, qua Phú Yên, Tuy Hoà, Mằng Lăng, Đông Mỹ, Hoa Châu, Sông Cầu về Gia hựu, làng Sông, Gò Thị, Diêu Trì, tôi gặp được người, thơ và đạo của miền đất hứa, của bờ xôi ruộng mật này. Một cuộc toạ đàm thi ca, một Tao đàn, một lễ trọng Phục sinh mới giữa đồng lúa mênh mông Phú Yên (9 và 10.01.03) những ngày trăng thượng tuần tháng giêng năm mới, gạo mới, tình mới. Thật hạnh phúc cho tôi, mỗi khi đọc lại bức thư của lm nhà thơ F.X Nguyễn Xuân Văn. Tưởng chừng như mới gửi cho mình hôm nào, còn tươi nguyên những cảm xúc dạt dào. Thì ra, ở cõi trên, cõi chín phẩm thiên thần, cõi “xuân đài thợ vực – văn thái phong lưu” Ngài đang sống, đang mỉm cười, đang rung lên cái tần số trái tim phát ra từ SĐTT, muốn gửi gắm mỗi người chúng ta. Như hơi thở của đất, như khói núi, như lời gió reo trong lúa, trong đồng mía trổ cờ :
“Thăm anh
Cuốn SĐTT sau khi vừa được tái bản, theo lẽ tôi phải gửi tặng anh ngay, nhưng cũng là lúc căn bệnh ập đến khiến tôi phải nằm liệt giường. Và tôi vẫn nhớ đến anh trong cõi tâm hồn… là Kitô hữu, được Chúa ban cho khả năng chuyển tải những mảnh đời thiêng liêng, anh giúp con đường đến với Chúa trở nên nhẹ nhàng và dễ bước đi hơn. Anh đã gợi lên trong tôi, khi đã trải qua gần 80 năm với cuộc sống, một cuộc hành hương về cõi đời đời. Giờ đây trên giường bệnh, với những cơn đau thể xác, tôi đồng cảm hơn với “cây nến phục sinh” mà anh muốn trao gởi cho mọi người:
Những vòng gai, lưỡi đòng, năm dấu
Nửa cõi thiên đường, nửa bến mê
Tu cả một đời, chưa hiểu rõ
Vì sao, cây Thánh giá ra hoa
Lạy Trời, mở huệ muôn chim chcs
Để ngát thơ, rực rỡ, chói loà.

Thơ gửi anh Đình Bảng, Tuy Hoà ngày 25.10.2001

THI CA CÔNG GIÁO VIỆT NAM
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG HỘI NHẬP VĂN HOÁ
Thử đặt một giả thuyết, Tin Mừng của Chúa như cơn gió đầu mùa và tâm hồn người Việt mình khác nào mảnh đất hạn hán, mong mưa? Đã có một cuộc hạnh ngộ, tuy muộn màng nhưng vừa đủ kỳ diệu giữa đức tin và Thi Ca, đã trở nên Lòng Đạo. Tôi nói Lòng Đạo chứ không phải Thần Học. Trộm nghĩ, người KTH Việt Nam có lẽ không ưa bất cứ một hệ thống triết lý xa vời, xơ cứng và áp đặt nào cả. Họ lắng nghe tiếng gọi thì thầm nhưng mãnh liệt của gió, của thần khí gọi mời con tim đang ngước trông lên cõi thiêng liêng. Không hiểu từ một thuở nào xa lắc, xa lơ, giữa cái cảnh bán mặt cho đất bán lưng cho trời, dân tộc tôi đã từng ngó lên cao mà hát bài ca cầu mùa rất sùng tín như thế này:
“Lạy Trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Cho đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp”.
Và một đêm trăng sáng nào đó, sau luỹ tre xanh ở xứ đạo làng quê VN, trẻ em ta cũng đã dắt tay nhau, miệng nghêu ngao câu đồng dao:
“Thiên đàng, đại ngục đôi quê
Ai khôn thì về, ai dại thì xa
Đêm về nhớ Chúa nhớ cha
Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn
Linh hồn phải giữ linh hồn
Đến khi gần chết, được lên thiên đường.”
Bằng con đường thi ca, tổ tiên tôi đã đón nhận đức tin. Cũng bằng thi ca, họ đã diễn tả, truyền đạt và sống Tin Mừng trong thanh bình hoan lạc và cả trong vất vả, cấm cách, u sầu Đạo và Thơ. Thơ và Đạo. Một cung cách “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa” rất riêng của người Công giáo VN, không giống ai hết. Nói theo lm Leopold cadière nhà tín ngưỡng-VN học-Huế học thì người VN vốn nặng lòng với tín ngưỡng dân gian, bước khởi đầu của đức tin vậy. Tổ tiên tôi đã làm cái công việc “có vẻ như một trò đùa” rất ngẫu hững, rất lãng mạng và “Thi ca hoá Lời Chúa”. Lời Chúa chảy trên dòng sông thi ca. người ta có thể đi suốt dòng dài trên dưới 400 năm đạo Chúa ở mảnh đất này, để thấy một cuộc kết hôn lạ lùng giữa Đức Tin và Thi Ca ở mỗi chặng đường lịch sử.
I. THỜI KỲ VỠ ĐẤT – GIEO TRỒNG (TK XVI-XVII)
Có ai ngờ cánh cửa mở vào lịch sử Công Giáo VN (Đàng Ngoài 1615 và Đàng Trong 1627) lại là những trang sách đậm đặc thi ca? một buổi khăn gói lên đường rất sớm của hội nhập văn hoá.
1. Công nương Catariana : Theo tường thuật của cha Đắc Lộ, Công nương Catarina (1627) đã sáng tác 8000 câu thơ lục bát, tường thuật diễn tiến lịch sử cứu độ của Đức Kitô. Rất tiếc, tác phẩm trường thiên này nay đã thất truyền.
2. Giáo sĩ majorica (1591-1656). Là một trong những thừa sai đồng hành và nối tiếp việc truyền giáo của cha Đắc Lộ. Đến Đàng Trong, ra Đàng Ngoài, nói và viết thành thạo tiếng Việt, để lại một sự nghiệp đồ sộ trên 40 tác phẩm (3678 trang) văn Nôm. Một tài liệu đã tổng kết như sau: “Giáo sĩ đã viết rất nhiều sách bằng ngôn ngữ và văn tự của xứ Bắc, đã phiên dịch hoặc sáng tác hơn 40 quyển. Đó là một kho tàng mà Giáo Hội ngày nay gìn giữ và kính trọng”.
3. Thầy giảng Phanchicô (?-1640)
Qua ghi nhận của Lm.Philipphê Bỉnh, Thầy giảng Phanchicô là tác giả của áng kinh văn bất hủ “Cảm Tạ Niệm Từ”. Lần đầu tiên, khi giới thiệu tác phẩn này với công chúng trên tờ CG&DT số 1032, 11.1995, bản thân chúng tôi đã mạo muội đưa ra nhận định như sau: “Bằng tấm lòng, chúng tôi chỉ muốn chứng minh rằng – cũng như kho tàng văn học dân gian VN –mảng kinh truyện của nhà đạo mình bao gồm các thể loại (vè, vãn, chương, khúc, ca, ngâm, tuồng tích, trong đó có “Cảm Tạ Niệm Từ”, thực sụ đã sắm một vai trò quan trọng. Không những trong đời sống đức tin-lòng đạo của người tín hữu VN, mà còn góp phần vào đời sống ngôn ngữ của dân tộc ta nữa. Bởi vì cho đến nay, trải qua nhiều thế kỷ, với muôn nghìn dâu bể, hệ luỵ mảng kinh vă trên đây vẫn không ngừng được ngân nga, xướng diễn trong nhiều cộng đoàn. Ngôn ngữ cùng cung giọng đặc thù của kinh văn nhà đạo, trong chừng mực nào đó, đã làm cho cái không khí phụng vụ và cầu nguyện thêm sắc màu lễ hội, thêm sốt mến thiêng liêng, hợp với nhịp rung cảm của tiếng lòng. Đặc biệt là tháng này, khi tiết trời tàn Thu chớm Đông, đọc lại toàn bộ kinh sách của ca vãn cầu hồn (Tứ Chúng, Tứ Mạt Ca, Kinh Vực Sâu, Kinh Cao Sang, Cảm Tạ Niệm Từ), tôi có cảm tưởng mình đang lãng đãng dật dờ cùng cỏ hoa, sương khói, y như người đến với “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của thi hào Nguyễn Duy vậy. Từ Requiem đến vực sâu…”
4. Thầy cả Lữ - Yđoan (1613-1678) – Sấm truyền ca
Ở đây, chúng ta gặp được một bậc thi nhân Công giáo VN với đầy đủ ý nghĩa, cả về lịch sử lẫn giá trị nghệ thật văn chương. Lm Lữ-Yđoan, người đi tiên phong trong việc truyền giảng Tin Mừng bằng cách thi ca hoá Thánh Kinh Cựu ước, với tác phẩm trường thiên “Sấm Truyền Ca” , gồm 5230 câu thơ lục bát. Về sự kiện văn hoá lịch sử độc đáo này, GS Trần Thái Đỉnh bày tỏ cảm nghĩ : “…Vui mừng và hãnh diện vì mình có một tài liệu quý giá như thế… đi sâu vào bản văn, người ta không thể không kính phục sâu xa đối với nền học vấn uyên bác khiến tác giả có thể ung dung vận dụng sự hiểu biết của mình để đưa Thánh Kinh vào trong văn hoá dân tộc và sử dụng văn hoá dân tộc để trình bày đạo lý của Thánh Kinh. Đây là công việc mà ngày càng được Giáo Hội mạnh mẽ khuyến khích, sau khi đã có những đổi mới rất táo bạo của Công Đồng Vatican II, như việc dùng tiếng nói của mỗi dân tộc thay cho tiếng Latinh làm ngôn ngữ phụng vụ…”
Ơ thời kỳ này, ta có thể kể thêm về trường hợp của tác giả: Gioan Thanh Minh (1588-633) và Raphael Đắc Lộ ( 1611-1687) với Vãn Thánh Giuse, Văn ông Tôbia.
II. THỜI KỲ NẢY LỘC-ĐÂM CHỒI (TK XVIII-XIX)
1. INÊ TỬ ĐẠO VÃN. Đây là một thiên trường ca (khuyết danh) gồn 563 câu thơ Nôm lục bát, kể chuyện cuộc tử đạo của một người phụ nữ VN có tên thánh là Inê (Agnès), xảy ra khoảng năm 1700, thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ở xứ Đàng Trong. Đến thế kỷ XIX, tác phẩm này được chuyển dịch sang tiếng Pháp, Anh và Latinh, để cùng với bản tiếng Việt (quốc ngữ), in song song với phần phụ lục cuốn “Từ điển latinh-Việt” của ĐGM Taberd (1794-1840), xuất bản tại Bengale (An Độ) năm 1838.
2. Lm.Philipphê Bỉnh (1759-1826). Theo Lm GS Thanh Lãng, Lm BỈnh đã lưu lại 26 tác phẩm viết tay về các thể loại, trong đó có cả thơ đạo, đời.
3. Lm Giuse Đặng Đức Tuấn (1815-1874). Quê quán tại Bình Định, thuộc địa sở Công giáo kỳ cựu Gia Hựu. Năm 1848, thụ phong linh mục tại Gò Thị. Nổi tiếng uyên thâm nho học, tinh thông Pháp, Anh, La ngữ. Ngoài 2 bản điều trần đệ trình vua Tự Đức, sự nghiệp thi ca của ông rất đáng kể, đặc biệt 2 tác phẩm trường thiên: Việt Nam giáo sử Diễn Ca (670 câu thơ song thất lục bát) và Lâm Nạn Phụng Quốc Hành (566 câu thơ phức hợp).
4. Thánh Lm. Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853). Nguyên quán Cái Mơn (Bên Tre), thụ phong linh mục năm 1846. Là người cộng tác chí cốt với ĐGM Taberd trong việc biên soạn, ấn hành cuốn “Từ điển Việt-Latinh” , sáng lập viên thi xã và tác giả thi phẩm “Phi Năng Thi Tập”. Toàn bộ di cảo trên đã được sưu tập và hiệu đính.
Ngoài ra, còn có một số tên tuổi lớn như: Nguyễn Trường Tộ (1830-1871); Phạm Trạch Thiện (1811-1903) với Vãn Dâng Hoa, Vãn Đức Bà Rosa; Lm Trần Lục (1825-1899) với ca Vè Cụ Sáu; Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1898), một danh nhân văn hoá lớn của Việt Nam.
III. THỜI KỲ ĐƠM HOA KẾT TRÁI (TK XX)
Làn gió thơ mới ở VN ta khởi đi từ Nguyễn Văn vĩnh (Đông Dương Tạp chí), từ Tản Đà (An Nam Tạp Chí), từ Phan Khôi (Phụ Nữ Tân Văn) ở những thập niên đầu thế kỷ XX. Thơ mới dấy lên thành phong trào nhờ Tự Lực Văn Đoàn với những cây đa cây đề như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử, Huy Cận… ở những năm 1930-1945. Dòng chảy thi ca Công giáo cũng nương theo một nhịp vồn vã, rộn ràng như thế. Ơ đây, chúng tôi xin khái quát một số tác giả tác phẩm nổi bật nhất để làm bằng chứng. Tất nhiên chỉ là sự lựa chọn chủ quan của nhà đạo, còn phải đợi lịch sử, thời gian và công chúng tiếp tục đánh giá thêm về sau.
1. ĐGM Đaminh Hồ Ngọc Cẩn (1876-1948). Chủ biên tờ Đa minh Bán Nguyệt San. Thơ văn đăng tải trên các báo vì Chúa, Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong Tạp Chí, Nam Kỳ Địa Phận.
2. Lm Giuse Maria Nguyễn Văn Thích (1891-1979). Bút hiệu là Sản Đình hoặc J.M.T, Thích, chủ biên tờ Vì Chúa (Huế). Ong là một nhân vật kỳ diệu, về ơn tòng giáo, ơn gọi linh mục và ơn gọi tông đồ giáo trong các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, báo chí, âm nhạc, linh đạo và đặc biệt là tài năng thi ca với tác phẩm ‘Sản Đình Thi Tập” gồm 151 bài thơ đủ mọi thể tài bằng Việt ngữ, Pháp ngữ, Hán văn.
3. Hàn Mạc Tử (1912-1940). Đỉnh cao của thi ca Công giáo Việt Nam thời kỳ này tích tụ ở con người và hồn thơ Hàn Mạc Tử. Tên thật là Phanxicô Assisi Nguyễn Trọng Trí, một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới, một niềm tự hào của văn hoạc công giáo Việt Nam. Tuy đời sống ngắn ngủi và vô cùng bất hạnh (bệnh phong), vẫn xứng đáng là người đứng đầu nguồn trong “đạo quân thánh giá” về mặt văn chương nghệ thuật hiện đại. Đặc biệt là chùm thơ cảm hứng từ Thánh Kinh trong tập “Xuân như ý”. Như chính tác giả đã quan niệm: “Thơ chẳng những để ca tụng Thượng đế, mà cũng để nối người ta với Thượng đế.” Nhà văn Hoài Thanh và Hoài Chân đã có một kết luận thoả đáng về họ Hàn như sau : “Hàn Mạc Tử đã dựng riêng một ngôi đền thờ Chúa. Thiếu lòng tin, tôi chỉ là một du khách bỡ ngỡ, không thể quỳ lạy với thi nhân. Nhưng lòng tôi có dửng dưng, trí tôi làm sao không ngợp vì cái vẻ huy hoàng trang trọng, lung linh huyền ảo của lâu đài kia? Với Hàn Mạc Tử, Chúa gần lắm. Người đã tìm lại những rung cảm mạnh mẽ… Thơ Hàn Mạc Tử ra đời, điều ấy chứng tỏ rằng đạo Thiên Chúa ở xứ này đã tạo ra một cái không khí có thể kết tinh lại thành thơ. Tôi tin rằng chỉ những tình cảm có thể diễn tả ra thơ mới thật là những tình cảm đã thấm tận đáy tâm hồn mọi người.”
Bổ sung vào thời kỳ nở rộinày của thi ca Công giáo Việt Nam, có thể kể tới kho tàng Vè Vãn, kinh văn, Tuồng Tích đạo (đang trôi dạt và sẽ bị lãng quên, nếu không được đầu tư, sưu tập) và những tác giả: Nguyễn Hữu Bài (1863-1935); Mai Lâm (1915-1992); Phạm đình Tân (1913-1992); Hồ Dzếnh (1916-1981); Bàng Bá Lân (1912-1988); Tống Viết Toại, Long Giang Tử, Võ Long Tê, Xuân Ly Băng, Phạm Đình Khiêm, Vũ Văn Kính, Cao Vĩnh Phan, An Sơn vị, Vũ Đức Trinh, Quách Thoại, Hoàng Kim, Nguyễn Duy Diễn, Lê Đình Bảng, Trăng Thập Tự, Nguyễn Tầm Thường, Đơn Phương…
SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG – NGUYỄN XUÂN VĂN
TRÊN LỘ TRÌNH HỘI NHẬP VĂN HOÁ.
I. HỘI NHẬP VĂN HOÁ, CON ĐƯỜNG TƠ LỤA CỦA HỘI THÁNH
Đêm nay, trời trở lạnh. Suốt từ An Chỉ, Gia Hựu, Gò Thị, Làng Sông, Ghềnh Ráng về Sông Cầu, Măng Lăng, Hoa Châu, Đông Mỹ, Tuy Hoà, Phú Yên. Qui Nhơn như vào hội mùa xuân, mùa xuân của văn chương, của thi ca Công giáo. Hạnh phúc cho tôi dường nào, khi được nói đôi điều về người con ưu tú NXV và SĐTT của miền đất Qui Nhơn thiêng thánh này. Hồn tôi, thú thật, lúc này đang ngất ngây, bay bổng, dâng triều. Bởi tôi đang thì thầm nhẩm lại những lời dạy bảo ngọt ngào đầy tính tiên tri, đầy sức nhạy cảm của Hội Thánh mà tôi yêu ở buổi hừng đông ấy. Không ngất ngây sao được, khi tôi đọc lại những tâm tình thiết tha thấm đẫm từng câu chữ:
1. Trong Huấn Dụ của Bộ Truyền Giáo, 1659 gửi 2 vị chủ chiên tiên khởi của giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài: “Đừng tìm cách, đừng tìm lý lẽ để thuyết phục các dân tộc thay đổi nghi thức, tập tục và phong hoá của họ; trừ phi điều đó trái ngược hẳn với tôn giáo và luân lý…đừng đem đến cho các dân tộc ấy cái xứ sở của quý vị. Mà chỉ đem đức tin, một đức tin không khước từ, cũng không làm tổn thương các nghi thức và tập tục của các dân tộc nào… Quý vị hãy tìm cách làm quen với những tập tục đó…”
2. Trong Công Đồng Vatican II (1962-1965). Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”.
3. Trong Tông Huấn ”Rao giảng Tin Mừng” , 1975. Bi kịch của thế giới chúng ta là sự đoạn tuyệt giữa Tin Mừng và Văn Hoá
4. Trong các Tông Huấn-Sắc chỉ của triều đại ĐGH Gioan-Phaolô II: 1979 với Uỷ Ban giáo Hoàng về Thánh Kinh; 1980 diễn văn đọc tại Nairobi; 1982 thiết lập Hội Đồng Giáo Hoàng về văn hoá; 1998 diễn văn khai mạc Thượng HĐGM châu Á; 1999 tài liệu về “Mục Vụ Vă Hoá.”
II. SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG, ĐƯỜNG ĐI ĐÃ TỚI.
1. Hội Nhập Văn Hoá, một nỗ lực không mệt mỏi.
Đọc lại và kiểm nghiệm lịch sử Giáo Hội và Công giáo ở VN, phải thành thật nhìn nhận rằng, ở mỗi nơi, mỗi thời và mỗi phạm vi, với nhiều mức độ đậm nhạt khác nhau, hội nhập văn hoá luôn luôn diễn ra, tiếp biến không ngưng nghỉ. Có thể là bảo thủ, hoài cổ, trì chậm. Cũng có thể là cấp tiến, nóng vội, quá đà. Điều đáng mừng là nó đã có, nó vẫn đang chuyển động ở một số lĩnh vực mà ta cảm nhận được.
a. Về ngôn ngữ:
Từ tiếng Latinh đến tiếng Việt. Một hành trình dài. Đây là một trong những nổ lực hội nhập văn hoá để rao giảng Tin Mừng của các giáo đoàn phương Tây khi đến Việt Nam. Họ đã “Học ăn, học nói, học gói, học mở” với đồng bào địa phương. Ơ đây, tôi chỉ nhấn mạnh đến vấn đề ngôn ngữ, chiếc cầu nói giữa người với người, giữa đạo với đời, không có không được. Ngay từ buổi đầu, đã có một loại tiếng nói khác – song song tồn tại bên cạnh tiếng nói của đời sống xã hội – được hình thành và sử dụng trong giao lưu rộng rãi, như một chuyển ngữ mà ta thường gọi là “tiếng nói truyền đạo” hay “ngôn ngữ nhà đạo” . nó mở cánh cửa nhà thờ, nhà dòng mà đi ra ngoài đời. Đó vốn là tiếng nói của địa phương, do các nhà truyền giáo làm phương tiện để giao dịch với người bản địa trong các sinh hoạt của mình. Khi mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài ranh giới địa lý, các nhà truyền giáo này vẫn tiếp tục sử dụng tiếng nói đó; và trên thực tế, đã biến nó thành một thứ chuyển ngữ đặc thù có thể áp dụng cho cả những nơi khác. Cũng có trường hợp các hoạt động tôn giáo do phương tây đưa vào đã được dân tộc hoá đi rồi, nhưng tiếng nói trên vẫn tồn tại. Cho nên nói đến ngôn ngữ nhà đạo là nói đến một di sản văn hoá đức tin vô cùng quý giá còn đậm đặc trong kinh sách lễ nhạc và cả trong nề nếp suy nghĩ, nói năng, biểu cảm, giao tiếp đời thường nữa. Có điều là nên chăng, xem xét lại, gạn đục khơi trong để đáp ứng nhu cầu của Giáo Hội, đồng thời bắt nhịp được bước đi, hơi thở của đời sống, của ngôn ngữ dân tộc mình.
b. về lòng đạo bình dân. Thể hiện rõ nét nhất ở :
- Nghi lễ: những sáng kiến bên lề phụng vụ: ngắm lễ, vãn hang đá, vãn sinh nhật, tuồng thương khó, ngắm đứng, than thánh giá, than mồ, lần chuỗi, dâng hạt, dâng hoa, rước sách, kiệu cờ theo ngôn ngữ và cung cách Việt Nam.
- Am nhạc: từ bình ca bằng tiếng Latinh (sách hát Rôma), từ nhạc lời pháp (Cantique) lời Việt, từ cung kinh, cung sách, cung nguyện gẫm ở mỗi địa phương cho đến sự ra đời của các nhạc đoàn. Các tác giả đã hình thành một nền âm nhạc Phụng Vụ Công giáo (thánh nhạc thánh ca).
- Kiến trúc: Nhà thờ, nhà nguyện, đền thánh, nhà dòng, chủng viện, nhà ở, bàn thờ, nghĩa trang, đài tưởng niệm.
- Mỹ Thuật: ảnh tượng dụng cụ thánh, các làng nghề truyền thống Công giáo (lễ phục, cờ xí, chuông trống, đan lát…)
c. Về văn học:
Kinh sách, truyện tuồng, vè vãn, ca, ngâm, chương, khúc… đặc biệt dòng thi ca Công giáo (như đã trình bày ở trên.
2. Sứ điệp Tình Thương, một mùa gặt bội thu
a. Từ một hoàn cảnh sáng tác đặc biệt
Có lẽ SĐTT đã được thai nghén và ương ấp suốt từ những năm ở quê nhà Bình Định, tiểu chủng viện Làng Sông (1936-1943), ở đại chủng viện Qui Nhơn (1943-1948), những năm đi giúp xứ (1945-1956), những năm mục vụ ở Đà Nẵng (1956-1957) và đặc biệt những năm 1977-1981 trong một điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn ở Mằng Lăng, Tuy Hoà, Phú Yên. Để rồi, qua sự động viên, nâng đỡ rất hào hiệp của TGM Qui Nhơn, tác giả Nguyễn Xuân Văn đã sinh thành đứa con tinh thần tròn trịa, tâm đắc nhất là SĐTT. Để viết SĐTT, tôi nghĩ, Nguyễn Xuân Văn đã phải kinh qua nhiều chặng đường thánh giá, với những giờ chầu lặng lẽ bên Thánh Thể, những thánh lễ hằng ngày, những giờ kinh nguyện, những giây phút trầm tư, kể cả những mặc khải mầu nhiệm riêng tư nào đó trong đời mục vụ. Tất cả cô đúc lại thành hơi thở, thành máu thịt, thành lời, thành vần điệu. Có mồ hôi sôi trên lưng của bác nông dân. Có mùi vị ngọt của mật đường. Có khói thuốc vấn và có cả sỏi đá nhọc nhằn của Bình Định, Phú Yên nữa. Như người mẹ mang nặng đẻ đau. Phải chắt chiu và đấu tranh nghiệt ngã lắm Nguyễn Xuân Văn mới có được SĐTT trao cho chúng ta. Tự nhiên tôi liên tưởng đến cha sở Léopold Michel Cadière (1869-1955) hạt trưởng hạt Di loan- nhà VN- Huế học bậc thầy đã có lúc phải thốt lên những lời cay đắng về cái thế giằng co vật lộn giữa trách nhiệm của người mục tử với xứ đạo con chiên và nỗi đam mê nghiên cứu viết lách, có vẻ không mấy cần thiết! Hà cớ gì, ông cha sở lại phải động não, chấp bút để làm thơ nhỉ? Tôi tin Nguyễn Xuân Văn cũng ở tình cảnh thập giá và vinh quang ấy.
b. Qua lời giới thiệu rất trân trọng.
Để được đấng bản quyền chuẩn nhận theo phép tắc nhà đạo (Nihil obstat và Imprimatur) đã là một trường đoạn. Theo linh mục P. Võ Tá Khánh, khi viết SĐTT ở giáo xứ Mằng Lăng chỉ có một tủ sách rất nghèo nàn, tứ tán sau biến cố 1975. Đại để là phải dựa vào quyển Phúc Am Tổng Hợp của Senatus Sài Gòn 1972. Có nghĩa là Nguyễn Xuân Văn phải khổ công đọc, sắp xếp, dàn dựng làm sao vừa sát câu chữ của Tin Mừng, lại vừa mang phong cách của thi ca Việt Nam. Tôi nghĩ đến nhiều tác giả đã dựa vào Daniel Rops để diễn tả Phúc Âm. Nguyễn Du dựa vào Thanh Tâm Tài Nhân để viết truyện Kiều. Còn Nguyễn Xuân VĂn thì phải tái tạo, làm mới từ số không… Hèn chi mà SĐTT đã được đọc, được động viên và được Lm Tổng Đại Diện giáo phận Qui Nhơn lúc ấy là cha Phêrô Nguyễn Soạn giới thiệu một cách trọng thị như thế này : “Trong tinh thần Hội Nhập Văn Hoá, với ước mơ mãnh liệt tung gieo Lời Chúa muôn nơi, linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đã diễn giảng cuộc đời Chúa Giêsu Cứu Thế qua 9764 câu thơ kết thành một kiệt tác vừa đượm tính cách dân gian, vừa bộc lộ ý nghĩa sâu xa của giáo lý Kitô giáo. Đây quả là một phối hợp tuyệt vời giữa cái cao siêu của lời Chúa và hồn thơ lai láng của thi sĩ”.
c. Qua sự đồng cảm của dân chúng
Chỉ trong vòng hai năm, SĐTT đã được tái bản (NXB Thuận Hoá 1998 và NXB tôn giáo 2001) với 2000 bản. Con số ấy đối với thi ca Việt nam là một hiện tượng không tin được. Là người yêu thơ, làm thơ và in thơ, tôi biết rõ chuyện này (cứ hai ngày có một tập thơ ra đời và mỗi tập thơ chỉ dám in 500 cuốn, vừa bán vừa tặng vừa cho phải mất từ hai đến 5,6 năm mới hết. Hú hồn!). Số phận nhà thơ và thi phẩm ở Việt Nam ta thật hẩm hiu! Trong khi đó thì một năm kể từ ngày qua đời, Nguyễn Xuân Văn đã được đông đảo công chúng yêu thơ đồng cảm. Hẳn chúng ta còn nhớ giáo phận Qui Nhơn ngày ấy trong quang cảnh và tâm tình của lễ tang trọng thể, xúc động khi đưa tiễn tác giả từ Tuy Hoà về nghĩa trang Làng Sông như thế nào. Có thể quay lại thước phim tưởng niệm 100 ngày (19/04/2002) tại TPHCM với sự hiện diện chủ sự phát biểu rất ngưỡng mộ của ĐGM Giuse Vũ Duy Thống (Chủ tịch Uỷ Ban về Văn hoá), của giới văn nghệ sĩ tên tuổi như các cụ Vũ Văn Kính, Bàng sĩ Nguyên, Phạm Đình Khiêm, các nhà thơ nhà văn, linh tông, huyết tộc, thân hữu gần xa. Kể cả một chương trình thánh lễ, giao lưu gặp gỡ, toạ đàm, ngâm thơ, ca hát về Nguyễn Xuân Văn và SĐTT. Đặc biệt hôm nay ở cấp bậc giáo phận đã đó – theo cha sở Giuse Trương Đình Hiền – Trưởng BTC – những ngày lễ cáo gia tiên trong dịp kỵ nhật tiên tổ và toạ đàm mang tính tưởng niệm, cảm nhận thiêng liêng về linh mục nhà thơ FX Nguyễn Xuân văn. Tôi nhớ một văn hào Pháp đã nói, cái chết đã san bằng tất cả; nhưng có những cái chết trở thành tất tử.
3. Sứ điệp tình thương trong dòng chảy văn học Việt Nam
Nhiều nhà nghiên cứu về văn hoá Việt Nam có đưa ra nhận định khá lý thú: “Việt nam là đất nước của thi ca”. Có nghĩa, bẩm sinh người Việt Nam đã là thi sĩ (natus poeta). Người Việt mình hầu như ai cũng thích đọc và có khả năng làm thơ, nhất là thơ lục bát. Văn hoá gốc nông nghiệp trọng âm, trong tình cảm, tất yếu sẽ có khuynh hướng thiên về thơ; văn hoá gốc du mục trọng dương, trọng lý trí, tất yếu dẫn đến khuynh hướng thiên về văn xuôi. Thống kê trên hai tập “Từ điển Văn học”cho thấy, trong 198 mục từ tác phẩm văn học phương Tây thì có 43 thơ và 115 văn xuôi (tỷ lệ văn xuôi là 78,3%). Còn trong 95 mục từ tác phẩm văn học thì có 69 thơ và 26 văn xuôi (tỷ lệ thơ chiếm 72,6%). Cụ thể từ văn học dân gian truyền khẩu (ca dao, tục ngữ, thành ngữ, đồng dao) cho đến văn chương bác học thành văn (Trê Cóc, Trinh Thử, Nhị Độ Mai, Bích Câu Kỳ Ngộ, Hoa Tiên Truyện, Mai Đình Mộng Ký, Chinh Phụ Ngâm Khúc, Kim Thạch Kỳ Duyên, Lục Vân Tiên, Đoạn Trường Tân Thanh…). Tất cả đều là thơ và thơ, cho dù là giáo huấn, truyện kể. Trong dòng chảy văn học Việt Nam ấy, thi ca chiếm lĩnh thế thượng phong. Và trong dòng chảy thi ca Việt Nam ấy, cũng đã có SĐTT của Nguyễn Xuân Văn, như một tiếp nối, một kế thừa với liều lượng và giá trị xứng đáng.
4. Sứ Điệp Tình Thương, Thuyền chở đạo.
Có cường điệu chăng, khi tôi nói con đường gần nhất, tuyệt vời nhất để đến với Chúa là con đường của thi ca? thơ là đạo, là đường, là đời Chúa, đời ta. Đạo là lời của Thiên Chúa mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta, như thánh Gioan đã nói.
Từ ngàn xưa, lời Chúa, bằng con đường thi ca đã được các bậc thánh nhân, tiên hiền thêu hoa dệt gấm để đến, để làm của nuôi linh hồn mọi người, mọi nơi. Từ Đa-vít với những Thánh Vịnh hiểu theo nghĩa Thánh Vịnh là thi ca tôn giáo, nhằm diễn tả tâm tình của người cầu nguyện trong quan hệ với Thiên Chúa, cho đến Diễm Tình Ca – Cựu ước, thư của Phaolô, Kinh hoà bình của Phanxicô Assisi, những ca khúc tâm linh của Gioan Thánh giá, truyện một tâm hồn của Têrêxa Hài Đồng… Tất cả lại là một nẻo đường thi ca. Rất thánh mà cũng rất người. Rất trọng vọng mà cũng rất lãng mạn, huê tình. Ơ Việt Nam, như trên đã nói, Tin Mừng đã được thi ca hoá, gieo vào lòng các tín hữu thật sâu, thật bền. Thuộc ca dao, thuộc Kiều và cũng thuộc kinh sách, ca vãn đạo. Tức là thuộc thơ. Ngôn ngữ Việt Nam, tâm hồn người Việt Nam đẫm chất thơ. Hễ là thơ thì dễ thuộc, dễ nhớ, dễ ngâm nga, ru mình, ru người, ru đời. Nhưng để hát hò, ngâm nga cho điệu nghệ, phải là thơ lục bát. Như thế nó mới toát ra cái hơi ngọt lẳng của sa mạc, bồng mạc, cò lả, hát xẩm, ca trù, quan họ, chiếu chèo như người bắc bộ; như thế mới thấm sâu cái hơi hò u uất, hệ luỵ của Huế, Trung bộ; và như thế mới toả lan trên sông nước kinh rạch của ầu ơ ví dầu, của cải lương Nam bộ. Cho nên, không là gì tử thuở hừng đông khi đạo Chúa vào Việt Nam đến nay, tổ tiên ta vẫn lựa chọn thi ca để chuyển tải Tin Mừng, cho đó, lục bát là một hiện tượng, một chỗ ngồi riêng biệt. Dường như với thơ lục bát, các nhà thơ Việt Nam xem ra có vẻ dài hơi hơn, tròn vành rõ chữ hơn, thấu lý đạt tình hơn, bát ngát thăng hoa hơn. Tôi muốn nói đến hiện tượng lục bát trong thi ca Việt Nam. Cứ nhìn ngược về văn học cổ điển, cận đại, trung đại. Cứ nhìn xuôi về văn học hiện đại, sẽ thấy nổilên chói là những chùm sao; Từ ca dao, đồng dao, từ những truyện thơ Nôm khuyết danh cho đến truyện Kiều. Từ những phiến tài hoa như Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Hồ Dzếnh, Tế Hanh, Bàng Bá Lân và nay là Nguyễn Xuân Văn. Riêng việc lục bát hoá Phúc Am xưa nay đã có khá nhiều người dụng công, dụng sức. Nhưng để gọi là diễn ca Phúc Am bằng thơ lục bát Việt Nam ở mức độ nghệ thuật, có lẽ duy chỉ một mình Nguyễn Xuân Văn xứng đáng chiếm giải khôi nguyên. Ong ngồi riêng một chiếu, chiếc chiếu hoa cạp điều, được dệt bằng cây cói thơm mùi hương dầu của biển, của đất của người Phú Yên này. Đây là điều bước đầu tôi đã ghi nhận khái quát ở lời bạt, ngay khi tác phẩm SĐTT ra mắt công chúng. Tôi nhớ có một lần đã lâu lắm, nhà thơ nhà báo Trần Dạ Từ (khôi nguyên về thơ, giải thưởng văn học nghệ thuật, 1970) kể chuyện. Trọng một buổi mạn đàm về về thơ, nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh (chủ soái sáng lập nhóm nhà văn Hàn Thuyên trước 1945, cùng với Đồ Phồn, Trương Tửu, Đặng Thai Mai) giữa lúc hứng chí, đã quên cả tuổi già để đứng dậy, bắt chước nhịp đi của một người Việt Nam thời trước. Ong vừa đi vừa cong vai, vừa phe phẩy tay theo bộ tịch một người đang gồng gánh. Ong nói, đây này, ông cha mình ngày xưa đã đi đứng thế này. Người mình là con nhà nông, luôn luôn có gồng gánh. Gồng gánh ở hai đầu trì xuống, tạo thế quân bình đặc biệt cho bước chân đi theo nhịp chẵn, đều đặn, kĩu kịt, liên tục, nhịp nhàng. Cái thơ lục bát của mình nó có là do cái thế đi đặc biệt ấy.
Tại sao tôi không đả động gì đến các thể loại thơ khác nhau cho đa dạng, đỡ nhàm tẻ, mà cứ phải nhắc lại cái điệp ngữ “Lục bát”? Bởi nó đã thành huyết mạch mà cha ông ta xưa và nay đến lượt Nguyễn Xuân Văn đã sử dụng để thác ngụ tình ý. Là kẻ “bảo hoàng hơn vua” chăng? Là người gác cửa ngôi đền quá khứ, cứ mải mê đi theo cái khuôn sao cũ rích chăng? Thưa, không. Hoàn toàn không. Lục bát tự nó thở ra từ máu thịt con người Việt Nam. Chẳng cần sự bảo vệ và biện hộ tầm thường của tôi. Nó vẫn sống phơi phới và mãi lung linh trên bầu trời thi ca. Còn dân tộc, mới là Việt Nam. Khối người đã từng viết, viết nhiều theo thể lục bát – một thể thơ dân tộc tinh ròng và thuần khiết nhất – mà vẫn cứ lạc điệu, lai căng theo kiểu clonaid – nhân bản vô tính. Rất vè, rất kiểu cọ, chẳng dân tộc tí nào.
Tôi nói đến 9764 câu thơ lục bát của SĐTT vì chúng đã ở trên đỉnh cao có thể ngang tầm với ca dao, đồng dao và những nhà thơ phù thuỷ về lục bát như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính. Đây là một trường hợp đặc biệt nhất trong cõi thi ca nhà đạo mình. Tôi chọn lục bát vì nó là hơi thở, là máu thịt, là tần số trái tim người Việt Nam. Cứ ung dung, nhẩn nha, đủng đỉnh. Chả cần hối hả, khúc mắc, vội vàng gì. Nói như nhà thơ Nguyễn Đình Thi, lục bát là hơi thở của người Việt. Nói tự nhiên như hơi thở con người, bởi thế thơi mới so le câu dài, câu ngắn, khong đều nhưng đi bằng đôi nhân nhịp chẵn (thường là hai từ một 2/2/2). Hít sâu vào thì ngắn, thở ra thì dài. Hít sâu vào huyệt đan điền. Thở ra tới cõi vô biên đời người. Đây là một thể thơ thông dụng, rất dễ viết, ai cũng viết được, mở miệng là nói được, kể cả những người ít học, thậm chí nhiều bà mẹ quê không biết chữ cũng nói thơ, thuộc thơ lục bát hơn cả những bậc tài trí uyên thâm. Nhưng viết lục bát cho hay, cho đẹp, cho bay bướm, cho thành thi ca thì khó vô cùng. Những tưởng sau truyện Kiều, với “lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”, lục bát đã khép lại, đã đụng trần, không ai dám bén mảng đến chân đến cái toà lâu đài cao ngất và sang trọng ấy nữa. Nhưng không phải thế. Nó còn mở ra bao nhiêu cánh cửa bát ngát để thử tài, thử bút lực, thử thi pháp của các thi sĩ cùng những người yêu mến, muốn thưởng thức nó. Nói một cách thông thái như nhà văn Nguyễn Tuân thì, anh bảo anh là nhà thơ Việt Nam ư? Vậy anh hãy cho tôi đọc vài câu thơ lục bát của anh, tôi sẽ nói cho anh là hạng bậc thi sĩ thế nào.
SĐTT và Nguyễn Xuân Văn xứng đáng để tôi khẩu phục tâm phục ở chỗ nó dám góp mặt, góp với lời với cõi thi ca lục bát tài hoa của các bậc tiền bối mà không sợ kém cạnh hay mặc cảm tự ti.
Hơn nữa, cái hay, cái đẹp, cái giá trị của SĐTT không chỉ ở câu chữ, ở độ dày, ở chiều dài gần gấp ba lần Truyện Kiều, mà còn ở cái thần, cái hứng, cái ý, cái tứ làm nên hồn vía phảng phất, bàng bạc hoặc sâu lắng ở đằng sau, ẩn sâu bên trong những con chữ, những vần điệu kia. Đúng như nỗi khát khao cháy bỏng của tác giả Nguyễn Xuân Văn gửi gắm rất nhiều trong SĐTT là dùng thi ca, thơ lục bát để trao gởi lời Chúa đến mỗi người. Chẳng phải chuyện tầm phào, trà dư tửu hậu của thế nhân thường tình, mà là chở đạo đến chổ nước sâu, xa bờ, xa khơi, mong cho thuyền đầy cá. Chỉ cần đọc lại một trích đoạn:
“Lời sao nặng cả ngàn cân
nghe êm như suối hồng ân chảy về
Lời sao thắm thiết tình quê
Nghe rưng nước măt, nghe mê mẫn người
Lời sao như vọng từ trời
Nghe ra như gọi, như mời tội nhân
Lời sao như gột lòng trần
Như lôi đất thấp đến gần trời cao”.
(SĐTT lời phi lộ)
sự thành công của SĐTT rõ ràng hiện ra ở nhiều mặt, nhiều góc độ. Như tham luận của các thuyết trình viên: Lm nhạc sĩ Anh Đăng, nhà giáo Nguyễn Tiệm, nhà thơ Nguyên Đạt. Với mỗi người trong chúng ta, chắc hẳn cũng có những cảm nhận ngưỡng mộ khác nhau. Riêng bản thân tôi sau khi đã đọc xong SĐTT như một tâm nguyện, như một lệnh truyền. Hệt như Đa-vít viết và ca hát Thánh Vịnh trước hòm bia Thiên Chúa. Thơ là thần lương. Thơ gợi hứng, gợi cảm. Thơ là cầu nguyện bằng bản văn nóng rực Thần Khí, để rồi hơi thơ của làn hương cầu nguyện bay lên tới cõi thiên đường. Nói khác đi, thơ là thần học, một thuật ngữ mang tính tự trải nghiệm như văn hào Ý Giovana Boccacio (1313-1375), là suy niệm về vị thế của thơ (situation de la Poésie) của Jacques Maritain, 1938, của Paul Claudel, của Charles Péguy, của Tagore… Đọc, hiểu và cảm thơ lục bát của Nguyễn Xuân Văn trong SĐTT theo cái nghĩa ấy, tức là ta đi vào lộ trình của Hội nhập văn hoá của tác giả vậy. Từ nay, với SĐTT, con đường tơ lụa ấy đã tới gần, đã leo lên tới đỉnh, để nhìn thấy và nhận ra Tin Mừng. Viết tới đây, tôi bồi hồi nhớ lại có lúc Hàn Mạc Tử chỉ có một một ước mơ tầm thường là được đọc trọn vẹn pho sách Thánh Kinh, mà không có! Xin cảm ơn lm nhà thơ FX. Nguyễn Xuân Văn. Xin cảm ơn SĐTT. Từ nay, ai nấy có thể mang theo bên mình, gối đầu giường một pho sách thiêng liêng làm của nuôi linh hồn, pho sách ấy chính là SĐTT. Đúng là đức tin đã được trở thành văn hoá.

KẾT LUẬN

Xa thật xa, bằn bặt trước cả Công đồng Vatican II và Thượng HĐGM châu Á, Giáo Hội đã lên đường. Lên đường và ra khơi, càng lúc càng trở nên thúc bách trong nhu cầu HNVH. Hành trình ấy mở ra muôn dặm bát ngát, nhưng cũng điệp trùng những phức tạp, gập gềnh. Ngày nay, đặc biệt lúc này, khi đấm ngực tự thú để nhìn về các châu lục mênh mông, đặc biệt châu Á biển người, châu Á đa văn hoá, đa tôn giáo, đa sắc tộc, nhu cầu HNVH vẫn đang mời gọi chúng ta.
Hơn 400 năm vào Việt nam, Tin Mừng của Chúa đã thấm nhập bằng nhiều cách, ở nhiều mức độ khác nhau. Với sức mạnh của Thần Khí, với vận dụng sáng tạo của nhiều thế hệ, Tin Mừng đã trở thành Đức Tin và Lòng Đạo, thành máu thịt của tín hữu Việt Nam. Không giống các dân tộc khác, người tín hữu Việt Nam đón nhận và sống dồi dao Tin Mừng theo cung cách riêng của mình, của một dân tộc “quí sĩ trọng nông”, của một dân tộc vất vả lầm than, nhưng luôn luôn ước mơ chắp cánh bay lên. Thi ca như con thuyền chở đạo, có khúc, có lúc, để cập bến, lên bờ.
Tất nhiên hành trình HNVH vẫn còn mở ra nhiều góc biển chân trời, những chỗ xa bờ, những vịnh nước sâu, nhiều sóng gió. Cả ngư phủ và hành khách đều phải ra sức chèo chống. Cha ông ta đã mở nẻo, chỉ đường bằng con đường tơ lụa của thi ca. Tác giả Nguyễn Xuân Văn với SĐTT ở thời đã mãn, nhắn gửi chúng ta đồng hành với Ngài trên lộ trình thênh thang ấy.
Thư bất tận ngôn. Ngôn bất tận tình. Tình bất tận ý. Cho phép tôi dừng lại vì ngày đã tàn và đêm đã khuya đã chớm. Thắp hương gọi hồn cụ Nguyễn Du, xin mượn câu thơ kết thúc 15 năm đoạn trường của nàng Kiều để thay lời muốn nói, lời chia tay của tôi đêm nay:

“Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh”.

Tuy hoà, ngày 10.01.2002


1 Đắc Lộ, Lịch sủ vương quốc Đàng Ngoài. Bản Việt ngữ của Hồng Nhuệ, tủ sách Đại Kết, TPHCM 1994, trang 103-106.
2 Võ Long Tê, Lịch Sử Văn Hoá Công Giáo Việt Nam, Sài Gòn 1965, trg 141.
3 Philipphê Bỉnh, Truỵện Annam Đàng Ngoài Chí Đàng Trong, Portugal, 1822, QI, trg 28-30
4 Trần Thái Đỉnh, Vài Cảm Tưởng Về Sấm Truyền Ca. Về Sách Báo của các tác giả Công giáo, Nguyễn Văn Trung, TPHCM 1993, trg 53
5 Phạm Đình Khiêm, Nhìn Lại Những Chặng Đường Thi Ca Công Giáo Việt Nam. Toạ đàm tại TGM Huế, 10. 2000, trg 6.
6 Võ Long Tê, Phạm Đình Khiêm, Phi Năng Thi Tập, bản thảo.
7 Lê Đình Bảng, Thơ Đọng Đầu Nguồn, bản thảo sẽ xuất bản.
8 Hoài Thanh, Hoài Chân. Thi Nhân Việt Nam, TPHCM, Hà Nội 1942, trg 204
9 Võ Tá Khánh, Bài Nói nhân dịp tưởng niệm 100 ngày (19.04.2002) Lm. Nhà thơ Nguyễn Xuân Văn, trg 3.
10 Trần Ngọc Thêm. Tìm Về Bản Sắc Văn Hoá Việt Nam. TPHCM 1996, trg 318.
11 NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1983
12 Lê Đình Bảng, Bước Chân Người Giao Chỉ. Sài Gòn, 1967
PHỤ LỤC I
________________________________

MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN CÁC TÁC PHẨM
CỦA CỐ LINH MỤC THI SĨ
F.X. NGUYỄN XUÂN VĂN

I. THI PHẨM “SỨ ĐIỆP TÌNH THƯƠNG”

1. Bối cảnh Phúc Am (Từ câu 1-30)

Dưới thời đế quốc Rôma,
Nghe rằng thiên hạ diễn ra lắm tuồng :
Một tuồng làm chủ nhân ông,
Một tuồng nô lệ trên gông dưới cùm.
Như nanh sói, như vuốt hùm,
Bàn tay ma quỉ bao trùm khắp nơi.
Quyết tâm hủy diệt Đạo Trời,
Cho người mất phúc, cho đời mất an.
Pha-lệ-tinh, xứ nghèo nàn,
10. Có đền thờ Chúa, có bàn dâng hương,
Có pho Kinh Thánh phi thường,
Có trang lịch sử vẻ vang một thời.
Dân cư được chọn lâu đời,
Là người Do Thái, vốn nòi Ích-diên.
Cong lưng dưới ách bạo quyền,
Khúc ca trường hận lưu truyền tử tôn.
Rô-đê quỉ quái tinh khôn,
Mượn oai “mẫu quốc”, mượn hồn đế vương.
Trị dân khắc nghiệt trăm đường,
20. Ngàn năm lịch sử treo gương bạo tàn.
Khắp nơi khốn khổ cơ hàn,
Khắp nơi là cảnh lầm than tột cùng.
Tiếng oan dội thấu Cửu Trùng,
Tiếng kêu trăm họ não nùng xót xa.
Ngàn đời đồng vọng khúc ca
Máu tô rõ nét, lệ sa nghẹn lời :
Mây ơi ! Mây hỡi ! Mây ơi !
Cho mưa rơi xuống, cho Người cứu dân,
Trời ơi ! Cho khắp gian trần,
30. Cho sương sa xuống hồng ân chan hòa."

2. Truyền tin (Từ câu 93-126)

Tháng ngày nước chảy mây trôi,
Nửa năm thấm thoát như hồi trống canh.
Ga-li nước biếc non xanh,
Thành Na-da-rét thơm danh một nhà.
Có Trinh Nữ đẹp như hoa,
Trắng ngà, trong ngọc nết na dịu dàng.
Maria mỹ danh Nàng,
100. Vốn dòng vương giả, thuộc hàng trâm anh.
Trăng tròn mười sáu xuân xanh,
Xinh tươi như sắc mây lành rạng đông.
Dung nhan rực rỡ vừng hồng,
Trăng in đáy nước, mây lồng bóng gương.
Vườn xuân khóa kín thiên hương,
Cõi trần không chút vấn vương bụi trần.
Trao tơ kết nghĩa Tấn, Tần,
Giuse chàng ấy thân gần đâu xa.
Tiếng người công chính thật thà,
110. Mặt đà đáng mặt con nhà vương tôn.
Đồng dòng dõi xứng tông môn,
Cùng Nàng đủ lễ đính hôn ước nguyền.
Người đành nên phận nên duyên,
Việc đời âu đã từ trên an bài.
Xuân sang nhằm tiết tháng hai,
Mặc hồng phơi sắc, mặc lài khoe hương.
Maria khép kín đài gương,
Thánh Kinh lần giở từng chương ghi lòng.
Phút đâu ánh sáng ngập phòng,
120. Ga-biên thoắt hiện giữa vòng hào quang.
Nghi dung thoát tục đường hoàng,
Nghiêng mình đến trước mặt Nàng cung tay,
Trang nghiêm chắp để ngang mày,
Lời chào như tiếng tơ bay khoan hòa :
“Mừng thay Chúa ở cùng Bà
Hồng ân hồng phúc hải hà đầy dư”…

3. Magnificat (Từ câu 197-218)

"Hồn tôi tán tụng Chúa Trời,
Lòng tôi hoan hỉ dâng lời tạ ơn,
Tạ ơn Chúa chuộc khoan nhân,
200. Thương người tì nữ, thương thân phận hèn.
Từ nay thiên hạ ca khen,
Rằng tôi có phúc, có duyên lạ lùng.
Rằng tôi bé mọn khiêm cung,
Được bàn tay Chúa oai hùng điểm trang,
Cho tôi nên trọng nên sang,
Cho Danh Thánh Chúa hiển vang muôn đời.
Những ai kính sợ Chúa Trời,
Được ơn thương xót mỗi thời mỗi tăng.
Những ai đầu óc kiêu căng,
210. Bị tay Chúa lấy quyền năng oai trừng.
Ngôi cao hạ xuống tột cùng,
Khiêm nhường cất nhắc bao dung mọi bề.
Cho người nghèo đói phủ phê,
Để người giàu có trở về tay không.
Chúa hằng tỏ đức khoan hồng,
Cứu tôi tớ Chúa, cứu dòng Ích-diên.
Như lời hứa với tổ tiên,
Áp-ram với kẻ kế truyền mai sau."

4. Chúa Giêsu giáng sinh (Từ câu 351-374)

Nàng bừng tỉnh giấc mơ nồng
Vội vàng ríu gối quì bồng Con yêu.
Hôn lên vầng trán mỹ miều,
Ngân nga mấy khúc dặt dìu ru con :
Con ơi Con ngủ cho ngon,
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày.
Con ơi Con ngủ cho say,
Đời còn trăm đắng ngàn cay hẹn chờ.
Ru Con cho mộng cho mơ,
360. Cho đời reo khúc nhạc thơ thanh bình.
Ru Con nên vóc nên hình,
Nên nguồn hy vọng nên tình yêu thương.
Ru Con khắc khoải canh trường,
Gió mưa thổn thức tuyết sương ngậm ngùi.
Ru Con, Con ngủ cho mùi,
Một mai đem lại niềm vui cho đời.
Đời Con khổ lắm Con ơi,
Ru Con an giấc Mẹ vơi lòng sầu.
Con ơi, Con ngủ cho lâu
370. Ngoài trời mưa tuyết bắt đầu lên cơn.
Bọc Con vào bức khăn đơn,
Đặt nằm trên máng cỏ rơm lạnh lùng.
Đêm khuya tuyết tạt gió lồng,
Mừng Con, nước mắt lưng tròng thương Con.

5. Gọi Simon và Anrê (Từ câu 1153-1200)

Một hôm dạo cảnh ven hồ,
Trông lên đồi cát nhấp nhô bóng người.
Hồ Ti-bê-rát đẹp trời,
Gió im sóng lặng ngược xuôi thuyền bè.
Phê-rô cuốn lưới ra về,
Lên thuyền Chúa bảo lách xê vài sào.
Trên bờ dân chúng nôn nao,
1160. Dưới thuyền tiếng Chúa cất cao vang lừng.
Mạnh sao như lửa bừng bừng
Dịu sao như mật thấm từng đường gân.
Lời sao nặng cả ngàn cân,
Nghe êm như suối hồng ân chảy về !
Lời sao thắm thiết tình quê,
Nghe rưng nước mắt nghe mê mẩn người.
Lời sao như vọng từ trời,
Nghe ra như gọi như mời tội nhân.
Lời sao như gột lòng trần,
1170. Như lôi đất thấp đến gần trời cao.
Lời sao huyền diệu làm sao,
Như thâu tim óc như vào thịt xương.
Đây là Lời Chúa tình thương,
Ngân vang muôn thuở vấn vương muôn lòng.
Giảng cho dân chúng vừa xong,
Chúa liền từ biệt đám đông lên thuyền.
Môn đồ được lệnh Chúa truyền,
Cho dân giải tán cho thuyền ra khơi.
Rằng : "Nhân được buổi đẹp trời,
1180. Ta đi đánh cá cho vơi hết ngày."
Phê-rô thưa : "Suốt đêm nay,
Chúng con vất vả trắng tay ra về,
Những toan gác lưới dẹp nghề,
Đã lời Thầy dạy mọi bề xin vâng."
Lạ thay lưới bủa mấy đàng,
Cá đâu như kiến sắp hàng chui vô.
Đầy thuyền dậy tiếng hoan hô,
Kẻ thâu tay lái người xô tay chèo.
Mấy thuyền đồng nghiệp đi theo,
1190. Giúp vào kéo lưới thả neo liền liền.
Cá thu đầy khẳm hai thuyền,
Đưa nhau cập bến bình yên vui vầy.
Phê-rô sụp lạy : "Trình Thầy
Xin rời khỏi kẻ hèn nầy cho xa."
Chúa rằng : "Thôi hãy theo Ta
Bỏ nghề lưới cá học khoa lưới người."
Anh em hớn hở nhận lời,
Quyết tâm theo Chúa trọn đời từ đây.
Chia cay xẻ đắng cùng Thầy,
1200. Nước non là bạn, trời mây là nhà.

6. Những mối Phúc Thật (Từ câu 1473-1496)

Phúc thay kẻ chuộng khó nghèo,
Nước Trời là giải thưởng treo cho mình.
Phúc người khiêm nhượng hiền lành,
Đất là cơ nghiệp Chúa dành vô biên.
Phúc thay cho kẻ ưu phiền,
Gặp nguồn an ủi triền miên có ngày.
Yêu đường công chính phúc thay,
1480. Khát khao một thuở no say muôn đời.
Phúc thay người biết thương người,
Mai sau sẽ được ơn trời xót thương.
Phúc thay lòng dạ tuyết gương,
Được nhìn Nhan Chúa thiên đường cao xa.
Phúc thay cho kẻ hiếu hòa,
Xứng danh con Chúa thiên tòa mai sau.
Phúc người vì Chúa khổ đau,
Nước Trời hiển trị cùng nhau đời đời.
Vì Ta chịu nhục một thời,
1490. Vì Ta chịu để cho người vu oan.
Các con có phúc muôn vàn,
Hãy mừng tận dạ hãy an tận lòng.
Phước phần cao trọng vô song,
Quê trời dành để chờ mong ngày về.
Tiên tri xưa bị khinh chê,
Bị đời ngược đãi ê chề thế thôi.

7. Người đàn bà tội lỗi (Từ câu 2031-2088)

Nàng là cô gái ngây thơ,
Không may chuốc lấy tiếng nhơ xa gần.
Được nghe Lời Chúa đôi lần,
Lời sao nặng cả ngàn cân khó lường :
"Phúc thay lòng dạ tuyết gương,
Được nhìn Nhan Chúa tỏ tường mai sau."
Lòng càng thêm tủi thêm sầu,
Đời thôi đâu nữa còn đâu là đời !
Làm sao thấy mặt Chúa Trời,
2040. Làm sao nghe được một Lời phân minh ?
Nghĩ mình chua xót nỗi mình,
Làm sao gặp được Thánh Tình hỡi ôi !
Cuộc đời bèo dạt mây trôi,
Trăm năm thôi thế thì thôi còn gì !
Tài mà chi, sắc mà chi !
Hương hoa rồi cũng qua thì hương hoa.
Đời làm khô héo tim ta,
Cho dòng huyết lệ chan hòa từ đây !
Thầy ôi ! Danh Thánh của Thầy,
2050. Khắc sâu vào cõi lòng nầy đã lâu.
Lời Thầy trang trọng nhiệm mầu,
Như vầng ánh sáng giữa bầu trời đêm.
Giọng Thầy dịu ngọt êm đềm,
Nghe sao như lửa cháy tim cháy hồn.
Thầy ôi ! Cứu vớt đời con !
Cho vành trăng khuyết được tròn như xưa.
Con cầu cho kiếp sống thừa,
Được ơn thương xót gặp mùa hồng ân.
Cho con được chết một lần,
2060. Cho con trút sạch nợ nần từ đây.
Cho con được phúc gặp Thầy,
Cho con thấy được một ngày sáng tươi”.
Nàng thầm nguyện đến vạn lời,
Ruột tằm tơ rối bời bời héo hon.
Nghe nhà biệt phái Si-mon,
Hôm nay Chúa đặt gót son ghé vào.
Nàng mang tâm sự dạt dào,
Chạy tìm gặp Chúa nghẹn ngào khóc than.
Hai hàng nước mắt chứa chan,
Trên bàn chân Chúa tuôn tràn khôn ngăn.
Tóc mây thấm lệ thay khăn,
Môi hôn chân Chúa, miệng thăn thỉ cầu :
"Con là vạn cổ thành sầu,
Phận hèn nào dám cúi đầu xin ơn.
Trông vào lượng cả từ nhân,
Khỏi bề sống đục được phần thác trong.
Ơn trên ngày ước đêm mong,
Lệ lòng dù chảy cạn lòng chưa thôi.
Trăm ngàn cay đắng Thầy ôi !
2080. Lấy đâu nước mắt tẩy trôi cuộc đời.
Lau sao cho tóc rối bời,
Hôn sao cho dại đôi môi héo buồn.
Càng lau lệ thảm càng tuôn,
Tóc mây vấn vít, nụ hôn nồng nàn.
Mặc cho con mắt bàng quan,
Tiếng nàng rên rỉ nghe tan nát lòng”.
Tay cầm bình ngọc cam tòng,
Tưới lên chân Chúa cả phòng ngạt thơm.

8. Dụ ngôn 10 cô trinh nữ (6485-6526)

Chúa còn đem chuyện Nước Trời,
Đưa vào tỉ dụ mười người nữ trinh :
Các cô vừa đẹp vừa xinh,
Được mời bầu bạn bên mình cô dâu.
Mỗi cô lo sẵn đèn dầu,
6490. Đón đưa chàng rể đến cầu nghinh hôn.
Mười cô : Năm dại năm khôn;
Dại thì xác đó mà hồn đâu đâu.
Đem đèn lại chẳng đem dầu,
Khôn thì khôn ở trong đầu khôn ra.
Chuyện chi cũng biết lo xa,
Nhớ đèn thì cũng nhớ qua bình dầu.
Đàng trai đi rước cô dâu,
Chẳng may bị trở ngại lâu dọc đường.
Các cô chờ chực canh trường,
6500. Đâm ra mỏi mệt lên giường ngủ quên.
Nửa đêm có kẻ kêu lên :
Kìa chàng rể đến ra nghênh đón chàng.
Các cô tỉnh giấc mơ màng,
Cô khôn đèn sáng sẵn sàng có ngay.
Cô dại bối rối chân tay,
Đèn mồi không đỏ hiện ngay mối sầu.


Quay sang các bạn yêu cầu :
Cho em vay đỡ tí dầu được chăng ?
Cô khôn lời khéo thưa rằng :
6510. Cho chị thì thiếu cả đằng em đây.
Thôi ta nên tính thế nầy :
Tốt hơn các chị tìm ngay quán hàng.
Đang khi các ả lang thang,
Mua dầu chưa được thì chàng đến nơi.
Năm cô chuẩn bị kịp thời,
Theo chàng dự tiệc vui cười vẻ vang.
Cửa phòng vừa đóng then ngang,
Năm cô dại đến hoang mang cất lời :
Mở cho em với chàng ơi !
6520. Chàng rằng : Nào biết các người là ai ?
Đã ngu chẳng lẽ ngu hoài,
Một lần dại, học thêm vài lần khôn.
Năm cô vừa thẹn vừa buồn,
Ra ngoài than thở, sầu tuôn thành dòng.
Hãy lo giữ dạ gìn lòng,
Con Người nào biết đến trong giờ nào ?"

9. Đức Mẹ khóc Con Từ câu 9087-9144)

Hỡi ôi ! Đức Mẹ Đồng Trinh,
Ôm Con yêu dấu thống tình khóc than.
Mạch sầu núi lở khó hàn,
9090. Dòng sầu đá chảy tuyết tan khôn cầm.
Ai ngăn nổi giọt lệ thầm !
Ai cầm nổi máu tim bầm ứa ra !
Nhìn Con lòng Mẹ xót xa,
Thương Con lòng mẹ hải hà khóc Con.
Khóc cho sầu thảm nước non,
Cho dòng huyết lệ chảy mòn đôi mi.
Chảy mờ mắt, Mẹ sầu bi,
Lời Kinh về Mẹ đã ghi đúng lời.
Khóc cho vang dội cõi đời,
9100. Cho hoa ứa lệ, cho trời nhỏ sương,
Cho ngơ ngẩn khách qua đường
Cho tim Con Mẹ thấm hương tình Người.
Trông Con thảm quá Con ơi !
Ngọc sa vũng lấm, châu rơi bãi sình.
Nào người đồng tử đồng sinh,
Nào người thân nghĩa thân tình ở đâu ?
Ai xui Con Mẹ dãi dầu,
Cho buồn tử biệt cho sầu sinh ly.
Con đi Mẹ ở làm chi !
9110. Mất Con Mẹ sống làm gì hỡi Con !
Đêm nay dưới bóng trăng tròn,
Mẹ ru Con ngủ cho ngon cho lành.
Đêm nay Mẹ thức cầm canh,
Ru Con an giấc cho thanh thản lòng.
Qua rồi đinh sắt lưỡi đòng,
Con ơi cứ ngủ cho nồng cho say.
Mẹ ngồi thức trắng đêm nay,
Để Con dệt mộng trên tay Mẹ hiền.
Ru Con, Con ngủ cho yên,
9120. Để Con quên hết ưu phiền, Con ơi !
Đau thương Con trải qua rồi,
Qua rồi Thập Giá trên đồi sọ khô.
Giờ đây Con sắp xuống mồ,
Hôn Con vĩnh biệt, Mẹ vô cùng buồn.
Hôn bao nhiêu dấu máu tuôn,
Nụ hôn Mẹ kết bằng muôn tơ lòng.
Hôn thương tích, cạnh nương long,
Hôn đầu tóc rối, mấy vòng gai đan.
Mặt Con như đóa hoa tàn,
9130. Đôi môi Mẹ thấm lệ tràn ấp yêu.
Đêm nay lòng đất quạnh hiu,
Chôn theo Con biết bao nhiêu là buồn.
Đêm nay lai láng sầu tuôn,
Mẹ ngồi canh mộ với muôn sao trời.
Lắng nghe gió thổi lá rơi,
Lắng nghe tiếng nói giọng cười ngày xưa.
Con ơi ! kể mấy cho vừa,
Cuộc đời còn chút hơi thừa vấn vương.
Kéo dài kiếp sống đoạn trường,
9140. Để than, để khóc, để thương nhớ ngày.
Ngày Con chết đắng, chết cay,
Chết đau, chết nhục, chết thay cho đời.
Mẹ sầu khổ lắm Con ơi !
Vì người, Con chết, ai người thương Con !

10. Huấn dụ trước khi về trời (Từ câu 9681-9716)

Thời gian vật đổi sao dời,
Xuân qua hè lại khí trời hanh hanh.
Vắng nghe tiếng cuốc đầu gành,
Ve sầu rỉ rả trên cành ô liêu.
Môn nhân theo ngọn thủy triều,
Cánh buồm tay lưới sớm chiều trôi qua.
Nhiều lần được Chúa hiện ra,
Xóa tan những nỗi xót xa tràn lòng.
Bầu trời trở lại sáng trong,
9690. Mây sầu như nước theo dòng chảy xuôi.
Bốn mươi ngày sống an vui,
Bến câu ‘Lữ vọng’ tẩm mùi nắng sương.
Chờ ngày Chúa gọi lên đường,
Hiến thân phục vụ bốn phương xa gần.
Mười hôm trước lễ Ngũ tuần,
Khắp nơi đệ tử nhanh chân tựu về.
Gia-liêm họp mặt vui ghê,
Biết bao chuyện lạ bên lề Phục sinh.
Cùng nhau hun nóng tâm tình,
9700. Giúp nhau sáng nghĩa Lời Kinh mười phần.
Bấy giờ Chúa lại hiện thân,
Cất lời trang trọng bảo ban tông đồ.
"Thánh Kinh chép Đấng Ki-tô,
Khổ đau đến lúc xuống mồ mới thôi.
Chết cho thiên hạ xong rồi,
Ba ngày sống lại phục hồi tuổi tên.
Nhân danh Người sẽ gióng lên,
Tiếng chuông cảnh tỉnh vang rền nơi nơi.
Cho muôn dân tỉnh mộng đời,
9710. Sương gieo ân tứ mưa rơi phúc lành.
Gia-liêm là điểm khởi hành,
Các con tự đó trở thành chứng nhân.
Thầy về sẽ gởi Thánh Thần,
Đấng Cha ban đến thay chân cho Thầy.
Hãy an lòng ở lại đây,
Đến khi nhận sức mạnh ngay từ trời”.

II. THI PHẨM “CUỘC ĐỜI ĐỨC MẸ”

1. Sinh nhật Đức Mẹ (Từ câu 1-72)

Bầu trời cao vút trong xanh
Gió thu man mác sương lành nhẹ rơi.
Thiên Thần bay lượn thảnh thơi
Hỏi nhau : Ai đó ! chào đời hôm nay[1] ?
Đẹp như ánh sáng đầu ngày
Hương thơm trinh khiết thoảng bay khắp trời
Hào quang muôn sắc hoa tươi
Trăng thu toả rạng chói ngời thiên cung.
Sao mai soi rõ mặt dung
10. Sáng như Bắc đẩu không trung chuyển vần.
Lời ca muôn vạn Thiên Thần
Chào mừng sinh nhật vang ngân dậy trời
Hoà trong tiếng khóc chào đời
Biến thành suối nhạc thành lời tình thương
Reo vui nhộn cả thiên đường
Muôn đời âm điệu du dương không ngừng.
Vọng vào âm phủ Tin Mừng
Tổ tông các đứng tưng bừng hân hoan.
E – va tổ mẫu nhân gian
20. Bấy lâu mong đợi khóc than đêm ngày
Từ ngày Sáng thế đến nay
Mừng vui nhảy múa, ngất ngây nghẹn lời.
A – dong tổ phụ cười tươi
Chúc mừng cháu gái mở thời hồng ân
Hiệp công cứu chuộc muôn dân
Đạp đầu rắn quỉ dưới chân uy quyền.
Theo lời Kinh Thánh lưu truyền
Cháu là người nữ tinh tuyền khiết trinh
Sẽ làm Mẹ Chúa uy linh
30. Khác xa tổ mẫu chúng sinh E – và
Mừng thay ngày cháu sinh ra
Phúc thay ngày cháu lánh xa hồng trần.
Lời chào của các Thiên Thần
Vang vào ngục tối thêm phần ước mơ
Con người trong cõi u mờ
Dệt niềm hy vọng bằng tơ khổ sầu
Muôn ngàn thế kỷ chìm sâu
Dưới lòng vực thẳm nhớ đâu tháng ngày
Nói lời vạn phúc hôm nay
40. Là nhờ cháu gái cơ may bằng vàng.
Nghe qua điển tích rõ ràng
Lâm bô vang dội một tràng pháo tay.
Mẹ cha tính đủ tháng ngày
Thấy con mắt phượng, mày ngài xinh tươi
Đặt tên theo luật từ trời
Ma-ri-a là biển đời đắng cay.
Gioa-kim thân phụ chau mày
An-na thân mẫu hiểu ngay ý chồng
Lấy lời êm dịu bảo ông :
50. “Có ơn Chúa giúp thì không sợ gì”.
Ông bà cầu nguyện gẫm suy
Tên con ý nghĩa huyền vi khôn lường
Đọc lên nghe thật dễ thương
Âm ba vang dội bốn phương đất trời :
“Ma-ri-a con yêu ơi!
Tên con lòng mẹ muôn đời ghi sâu.
Mẹ yêu con đến bạc đầu
Vì con giãi nắng mưa dầu kể chi.
Con ơi! Con hãy ngủ đi
60. Gió vi vu thổi, mưa rì rào bay.
Ru con, con ngủ cho say
Mơ nhiều mộng đẹp cho đầy niềm vui.
Cho con thức với nụ cười
Với đôi mắt đẹp nhìn trời bao la.
Rồi đây mẹ sẽ dạy qua
Cho con biết có người cha trên trời
Yêu con từ thuở đời đời
Tạo nên con đẹp tuyệt vời đó con.
Cho con mặt ngọc môi son
70. Trông như thể vầng trăng non giữa trời.
Con ơi hãy mến yêu Người !
Dù con chưa biết nói lời tạ ơn”.

2. Đức Mẹ dâng mình (Từ câu 169-226)
Nắng mưa gió bụi ngập tràn
170. Cổ xe ngựa vẫn an toàn xông pha.
Suốt ngày ngồi cạnh mẹ cha
Cho dù mỏi mệt, Ma-ri-a vẫn cười.
Nụ cười như đoá hồng tươi
Khiến lòng cha mẹ cũng nguôi phần nào.
Cổ xe dừng trước cổng chào
Dưới cây cổ thụ tàn cao xanh mờ.
Ma-ri-a đứng ngắm đền thờ
Nơi cô bé đã ngày chờ đêm mong
Là nơi lòng được phỉ lòng
180. Là nơi được sống trong vòng tay Cha.
Đền thờ lộng lẫy nguy nga
Tháp cao chót vót vượt xa tầm nhìn.
Mười hai trụ cái tiền đình
Xây bằng đá quý chạm hình hoa văn.
Trước giờ lễ tế cầu an
Nghe vang tiếng hát cung đàn du dương
Chào mừng du khách hành hương
Gần xa tấp nập bốn phương kéo về.
Người thành thị, kẻ thôn quê
190. Vai mang, tay xách đùm đề hoa hương
Hội nhau lại trước tiền đường
Giờ dâng lễ vật xếp hàng tiến lên.
Hai thầy giúp lễ hai bên
Nhận trao tư tế đứng trên bàn thờ.
Ma-ri-a hãy còn thơ
Cũng vào hàng ngũ đứng chờ dâng hoa.
Thu hình bên cạnh mẹ cha
Trên tay cầm sẵn bó hoa thơm nồng.
Đây là giây phút ước mong
200. Quyết dâng cho Chúa hoa lòng trung trinh
Để ngày Mẹ đến dâng mình
Là ngày tuyên khấn đồng trinh trọn đời.
Mẹ luôn giữ ý giữ lời
Canh phòng cẩn mật chuyện đời riêng tư.
Lễ xong được gặp kinh sư
Chính thầy tư tế đến từ thánh cung.
Trông thầy độ lượng khoan dung
Mặt mày phúc hậu, tóc hung hung dày.
Ông bà kính cẩn chắp tay
210. Thong dong ngắn gọn tỏ bày khúc nôi :
“Trình thầy ! đạo hữu chúng tôi
Đã từ làng mạc xa xôi tìm về
Đem con dâng hiến Gia-vê
Lửa hương đền thánh mọi bề chăm lo.
Xin thầy thương chúc lành cho
Chăm nom cháu bé còn thơ dại nhiều”.
Nghe qua lời lẽ đôi điều
Thầy tư tế cũng ra chiều cảm thông.
Rằng : “Cây đã được vun trồng
220. Những mong sớm thấy trổ bông trong lành.
Phải chi có thuốc trường sanh ?
Để trông thấy cháu trưởng thành ra sao !”.
Ông bà nghe nói nghẹn ngào
Hôn con từ biệt xiết bao chạnh lòng.
Ma-ri-a gạt lệ tiễn xong
Theo chân thượng tế vào trong đền thờ.

III. MỘT SỐ BÀI THƠ GHI DẤU DÒNG ĐỜI

1. Hồi ký 40 năm linh mục
Ôi lạy Chúa! Bốn mươi năm Linh mục
Con đã nhận biết bao là ân phúc!
Kể sao vừa tình Chúa đã thương con!
Cho dù sông có cạn đá có mòn
Tình Chúa bao la không sao kể xiết!
Bốn mươi năm đường dài đi mãi miết
Sa mạc cuộc đời, nắng gió chông gai
Bước đầu tiên được ơn Chúa an bài
Gởi con đến xứ Trúc Hà xơ xác.
Mười năm chiến tranh hoàn toàn đổ nát
Không còn gì đứng vững với thời gian
Ngôi nhà thờ trông cảnh thật nghèo nàn,
Mái tranh vách đất điêu tàn siêu vẹo,
Với bao nhiêu vết thương chưa thành sẹo
Với bàn thờ lỡ lói phủ rêu xanh
Với tượng Chúa ảnh Mẹ bể tan tành.
Chỉ còn đứng vững vàng cây Thánh giá
Con nhỏ lệ cúi đầu chào cảm tạ
Phần gia nghiệp xin nhận lãnh từ đây!...

Đang trầm tư trước hai ngọn đèn cầy
Nghe hiệu trống đánh tập trung huyên náo
Con bình tĩnh ra ngoài chào bổn đạo
Thấy trẻ già lớn bé độ vài mươi
Con hân hoan gởi đến họ nụ cười
Và vui vẻ bắt tay từng người một
Cuộc gặp gỡ đơn sơ nhưng thiết cốt
In vào lòng ấn tượng thật sâu xa.
Sau đi đâu cũng nhớ đến Trúc Hà
Nhớ đứa con đầu lòng trong gian khổ
Qua mấy tháng chỉ chuyên cần dạy dỗ,
Dạy các em học giáo lý vỡ lòng,
Dạy rửa tội được một số tân tòng.
Biến nhà xứ thành một căn phòng học,
Hết học làm sân chơi cho lũ nhóc
Mặc chúng tha hồ nhảy chạy hét la
Cho ấm áp, cho vui nhộn cửa nhà…

Vườn địa đàng thế gian đâu còn nữa,
Một chiều thu lá vàng rơi trước cửa
Thiên Thần mang gươm lửa giục ra đi.
Nhận tin buồn lòng trĩu nặng như chì
Mới chân ướt vào nhà còn chưa ráo,
Ngõ trước vườn sau chưa dọn kịp chu đáo,
Đu đủ trồng chưa kịp có trái ăn
Để đàn chiên ở lại thiếu người chăn.
Bước ra đi mà lòng nhiều vương vấn
Phút biệt ly nỗi buồn dài vô tận,
Viết thành thơ cho thương nhớ đậm đà
Dệt thành tơ cho lòng thấm xót xa
Kết thành khói cho lâu dài kỷ niệm.
Chúa ôi! Bước đầu đời non kinh nghiệm,
Tránh làm sao cho khỏi lưới nhện giăng
May Chúa thương đã chặt đứt xích thằng
Đưa về bến Đà Giang vừa đúng lúc.
Nơi đây nhờ tay Mẹ đầy ơn phúc
Đã dìu con chập chững học làm người.
Làm con người Linh mục giữa lòng đời
Biết tiếp xúc biết nhiệt tình phục vụ
Biết nếp sống văn minh đầy quyến rũ
Biết răn mình tránh khỏi thứ xa hoa
Biết tình người thành thị thiếu mặn mà
Ngoài mặt xã giao, trong lòng xa cách…
Hơn một năm áo dòng chưa kịp rách
Tuân lệnh trên về học cách trồng người.
Trở lại nơi từ bé đã quen nơi
Giữa bốn bức tường với đèn với sách
Với đám Chủng sinh, giảng bài viết lách
Với giờ kinh, giờ lễ nối đuôi nhau
Theo tiếng chuông dài ngắn đã thuộc làu
Theo nhịp sống nhà tu không miễn cưỡng.
Mùa chọn giống tính theo mùa hoa phượng
Khoa trồng người kết quả chẳng là bao
Tay chuyên môn đâu có được tay nào
Tay nào đến cũng vừa làm vừa học
Học làm thầy, học trau dồi tim óc
Cho học trò và cho chính bản thân…
Qua mấy năm vơi nhẹ cánh phong trần
Thuyền đời tưởng nằm yên trên bến cạn
Có ngờ đâu thân thuyền bị nứt rạn
Tách rời xa tay lái tự bao giờ!…

2. HÃY QUÊN ĐI

Hãy quên đi bãi cát vàng năng gắt
Những công trình tẩm nước măt mồ hôi
Gió lạnh về bi thảm xoá tan rồi !
Chỉ còn lại một nét buồn muôn thuở.
Hãy quên đi chẳng có gì đáng nhơ
Nghĩa gì đâu cát bụi dưới chân người ?
Nghĩa gì đâu mười năm gió năng tươi ?
Long đã chết,thôi đừng than tiếc nữa ?

Tiếc làm chi những ngày buồn chan chứa
Những đêm khuya cô tịch giữa lòng đời
Xa hết rồi nỗi nhớ của ta ơi !
Quên đi nhé ! cho lòng vơi bớt khổ !

Hiện tại còn gì ? Tương lai sóng vỗ
Sắc màu tươi năm tháng đã qua rồi
Xây làm chi những ước vọng xa xôi ?
Cho đầu óc chờn vờn thêm mây khói !

Hãy quay về tìm lại đường ơn gọi
Đường hy sinh sáng chói ý trời cao.
Hãy dừng chân nghe tiếng gọi ngọt ngào
Tiếng Con Chúa thì thào trên thập giá.

Dừng chân lại nhìn cuộc đời tàn tạ
Như thân cây đang úa lá khô cành,
Nhựa sống thừa không đủ tạo màu xanh
Cho mái tóc,biến nhanh thời hoa mộng.

Hãy cố tạo niềm vui cho cuộc sống
Bằng tình thương,bằng Hy Lễ mỗi ngày
Bằng lời thơ dìu dịu toả hương bay
Dâng lên Mẹ với tâm tình con thảo .

(Tháng 7/1975)

3. AVE MARIA !


Lời Sứ Thần Thiên Chúa
Kính chào Mẹ ngày nào
Nghe êm ái ngọt ngào
Tựa như lời ân sủng .

AVE MARIA !

Lòng con như nở hoa
Tim con như bừng cháy
Con sấp mình kính lạy
MẹThiên Chúa chí tôn
Đấng sáng tạo càn khôn
Và cầm quyền vũ trụ !
Hỡi trăng sao tinh tú !
Hỡi Thần Thánh loài người !
Hãy ca ngợi Chúa Trời
Qua công trình tuyệt mỹ
Hỡi núi non hùng vĩ
Hỡi biển rộng sông dài !
Hỡi tất cả muôn loài !
Hãy đồng dâng ca khúc
Mừng Mẹ đầy ơn phúc !

Ave Maria !
Đây ngọn nến tràng hoa
Đây nén hương huyền diệu !
Đây cung đàn muôn điệu !
Đây tiếng hát lời kinh !
Hãy quỳ gối tôn vinh !
Dâng lên MẹVô Nhiễm
Lời chào đầy ý nhiệm :

Ave Maria !

Với nỗi lòng xót sa
Với tâm tình đền tạ
Gục đầu vào Thánh giá
Dưới chân Mẹ, Mẹ ôi !
Con dâng tràng Mân côi
Kết bằng hạt lệ nóng
Bằng muôn tơ ước vọng
Bằng ánh mắt tin yêu
Khi bóng ngã về chiều
Lúc đêm dài tỉnh mộng
Khi cõi lòng trống rỗng
Lúc tình ý mông lung
Trong giờ phút lâm chung
Con than cầu nức nở
Kêu xin Mẹ che chở

Ave Maria !
Đây chuỗi Fatima !
Đây vòng hoa chiến thắng !
Con quỳ cầu thầm lặng
Trước nhan thánh Mẹ hiền
Lòng suy gẫm triền miên
Những lời Mẹyêu mến .
Khi từ trời Mẹ đến
Như gió lướt mây trôi
Đứng trên ngọn cây sồi
Phán cùng ba em bé :
“ Hỡi đoàn con của Mẹ
Hãy lần hạt Mân Côi !
Hãy phạt tạ đền bồi
Từ bỏ đường tội lỗi
Hãy ăn năn sám hối
Tránh xa nẻo lạc lầm !
Hãy tôn sùng Mẫu Tâm !
Trái tim Mẹsẽ thắng !
Nếu loài người bất khẳng
Hình phạt của trời cao
Trút xuống nặng dường nào !
Tay Mẹ ngăn không nỗi !
Hỡi các con tội lỗi !
Nghe lời Mẹv an xin
Hãy sống lại niềm tin :
Tin vào tình yêu Chúa !”

17-02-1986 .


4. CHÚA THÁNH THỂ

Lời cầu nguyện
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể
Tình yêu Chúa bao la như trời bể
Quả tim con bé mọn như hạt sương
Làm sao chứa nổi cả đại dương
Quả Tim Chúa cháy bùng như núi lửa
Hãy nhận chìm tim con vào Tim Chúa
Để máu con bớt lạnh như sương băng
Và hồn con trong sáng như vầng trăng
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể!
Chúa yêu con khôn xiết kể
Mối tình nào đem so sánh được sao?
Cây cao nào sánh được với trời cao?
Vì yêu con Chúa bỏ trời xuống đất
Vì yêu con Chúa muốn làm người thật
Nên giống con để cứu chuộc con
Gần gủi con, để kết nghĩa sắc son
Sống với con để hoà mình chịu khó
Một kiếp lầm than, một đời từ bỏ
Vì yêu con chết để đền tội con
- Dâng hương -
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể
Chúng con đau buồn khôn xiết kể
Xin dâng lên những nén hương lòng
Với tâm ý thật trinh trong
Với khói thơm xoá tan màu tội lỗi
Và bốc lên xông cõi lòng sám hối
Bay vờn quanh toà Chúa cao sang
Trông giống như những giải lụa xanh vàng
Thật lanh động, thật dịu dàng uyển chuyển
Để kết thành lời kinh cầu nguyện
Sốt sắng dâng lên với ngàn đoá hoa tươi
= Múa đuốc =
Lạy Chúa Giêsu vô cùng quyền phép
Là người đẹp tuyệt thế giữa loài người
Là Tình Yêu tràn ngập giữa đất trời
Xin dâng Chúa những quả tim bé mọn
Như tia lửa bốc lên thành ngọn
Kết thành vòng đuốc lửa yêu thương
Cùng cử lên vũ khúc nghê thường
Trước Nhan Thánh hào quang thêm rực rỡ
= Múa quạt =
Trước Thánh Nhan Thiên Thần bay tở mở
Tung cánh lên như rừng nở quạt hoa
Cùng chúc tụng bằng điệu múa lời ca.
Với ánh mắt say xưa, với cõi lòng rạo rực
Tất cả như chìm trong thánh đức
Hạnh phúc tràn trề chan chứa niềm vui
Lạy Thánh Tâm Chúa Giêsu
Chiều hôm nay sương lạnh trải mịt mù
Có những quả tim buồn tê tái
Có những quả tim không kết trái
Xin dâng lên cho Chúa Tình Yêu
Xin ban ơn cho họ thật nhiều
Để tất cả trở thành con cái Chúa…

5. KỶ NIỆM 2000 NĂM SINH NHẬT MẸ
(1984)

“ Sinh nhật Mẹ hai ngàn năm kỷ niệm"
Lời Cha chung tha thiết nhắn đoàn con
Giờ tôn vinh Mẹ Chúa Trời đã điểm
Tiếng chuông reo vang dậy khắp nước non .

Con cái Mẹ sóng lòng cao như núi
Triệu con tim hoà nhịp triệu lời ca
Chúc mừng Mẹ sống lâu muôn muôn tuổi
Hưởng ngày dài hơn Chức nữ Hằng nga .

Con muốn dệt lời thơ bằng hoa nến
Mừng hai ngàn tuổi thọ Mẹ Đồng trinh .
Con muốn đốt cháy hồn bằng lửa mến
Cho sôi lên tiếng nói của tâm tình

Cho máu tim nhỏ xuống đầu ngọn bút
Cho dòng thơ trào ra như nước lụt
Bốc hương tình hấp nóng vạn con tim
Bị bàn tay ma quỷ đang nhận chìm
Đang ướp lạnh cho chết tê chết tái .

Hỡi người Mẹ được muôn đời sùng bái !
Kể từ ngày Nguyên Tổ bị sa cơ
Vườn Diệu quang mây đen phủ mịt mờ
Hình ảnh Mẹ loé lên như tia sáng
Như sao mai giữa trời đêm chói rạng
Tạo niềm tin cho thiên hạ muôn đời
Gieo kinh hoàng cho ma quỷ khắp nơi
Tiêm hy vọng vào đường gân mạch máu
Từ Nguyên Tổ đến ngàn đời con cháu
Để ước mơ và khao khát không ngừng .

Mẹ chào đời cả vũ trụ reo mừng
Trời đổ sương thơm, đất trào suối ngọt
Vườn Giêt-xê cây lành sinh trái tốt
Núi Sion in gót ngọc tinh tuyền .

Rồi đến ngày Mẹ vâng nhận lời truyền
Ban cho thế gian Tin Mừng cứu độ .
Đồi Can-vê Mẹ nát lòng đau khổ
Vì loài người dâng Con cứu loài người .

Thời gian qua đến thế kỷ hai mươi
Mẹ là Mẹcủa đoàn con tội lỗi
Niềm hy vọng của những người sám hối
Nơi tựa nương cho những kẻ cô đơn .

Mẹ ra đời .
Mẹ ban phước
Không người nào cầu xin mà chẳng đươc
Không ai chạy đến Mẹ lại về không !


Maria ! Mẹ tiến lên như rạng đông
Xinh đẹp hơn vầng trăng thu mát dịu
Rực rỡ hơn ánh mặt trời phản chiếu
Và oai hùng hơn bá vạn hùng binh !
Con run run đặt ý chí tâm tình
Dưới chân Mẹ, nguyền trọn đời theo Mẹ

6. LÒNG MẸ

Làm tại bệnh viện Tuy Hoà – Phú yên
Tháng 12 năm 2001
Rồi có lần Mẹ đưa con vào bệnh viện
Để con xem đau khổ phủ mây sầu
Phủ ngoài, trong phủ mấy tầng lầu
Phủ đôi mắt lạc thần người thiếu phụ
Hai tay gầy ôm đứa bé chưa rời vú
Đang ngoa ngoe ngoằn ngoại chống tử thần.
Để con xem đau khổ đến dừng chân
Bên giường một thanh niên đang co quắp
Chân tay run rẩy miệng mồm lắp bắp
Nét xuân tươi mờ nhạt dưới làn da
Tái xanh xao, meo mét, xám, xù xì
Màu tuổi trẻ biến thành màu tang tóc
Để con xem khổ đau gây khóc lóc
Cho đứa con tất tưởi bên mẹ già
Mà tuổi đời chưa đến sáu mươi ba
Phải ra đi bỏ đứa con côi cút
Để con xem khổ đau từng giây phút
Gieo u buồn vào tâm trí các bệnh nhân
Những con người đang thiếu vắng hồng ân
Thiếu niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa
Họ đang bị lưới khổ đau vây bủa
Mắt mờ, tai điếc hết mọi sự xung quanh
Chỉ biết tin vào khả năng mong manh
Của khoa học, bác sĩ và y sĩ
Mẹ muốn con lắng nghe, nhìn thật kỹ
Những nỗi đau đang rên xiết quanh giường
Để rồi biết cầu nguyện biết yêu thương
Biết cùng Mẹ đồng hành đường đau khổ
Với Chúa Giêsu, với những người xấu số
Để tìm phương, chân đứng lệ sầu buồn
Tìm phương giải toả áng mây buồn
Biến đau khổ thành nguồn tăng sinh lực.

7. MỪNG NGÂN KHÁNH

Hai mươi lăm năm dài mang Thánh giá
Mang khổ đau, mang niềm tin sắc đá
Như mũi neo Hy vọng cắm ven trời
Dù nỗi trôi giữa sóng gió cuộc đời
Tay lái cố vững vàng theo định hướng .
Hai mươi lăm năm dài đầy tin tưởng
Đem quả tim nhỏ bé của ngày xanh
Qua bàn tay bảo trợ Mẹ nhân lành
Dâng cho Chúa một lần không thay đổi .
Hai mươi lăm năm dài : công hay tội ?
Biết nói gì với Chúa ? Giêsu ôi !
Biết nói gì ? Năm tháng đã qua rồi !
Qua mất hết theo mưa đơn gió kép .
Hai mươi lăm năm dài xây mộng đẹp
Mộng chưa thành nhưng tin tưởng ngày mai
Dõi theo đường Thiên Chúa đã an bài
Đường Thánh giá đương tình yêu mầu nhiệm .
Qua hai mươi lăm năm mừng kỷ niệm
Nhớ lại ngày bỏ lốt áo thế gian
Chọn mầu thâm mầu tang tóc bần hàn
Vì yêu Chúa quyết chôn vùi tất cả .
Ngày hôm nay với tâm tình cảm tạ
Đang sôi lên trong mạch máu đường gân
Xin đặt trên bàn thờ Chúa từ nhân
Ba lời khấn như ba cây nến sáng .

Tặng các Nữ Tu dòng MTG Quy nhơn
25 -06 – 1988

8. TÂM SỰ BA MƯƠI LĂM NĂM LINH MỤC
25 / 01 / 1956 - 25 / 01 / 1991

Ba lăm năm mùa xuân đầy hoa mộng
Mộng Nước Trời gieo với mộng ngày xanh
Hoa trổ nhiều mà trái kết chẳng thành
Cây rậm bóng mà lá cành ngơ ngát !...
Xuân mùa chay khăng khăng đòi phạt xác
Đòi xé lòng xé ruột rắt tro vào !
Giữa mùa hoa, xuân e ngại biết bao !
Tình xuân nhạt mà ý xuân nồng ấm.
Rời chay tịnh xuân bắt đầu suy gẫm
Chuyện thương đau của Chúa thật dồi dào
Nghe như máu còn đổ, lệ còn trào
Xuân dã khóc, khóc nhiều cho tội lỗi.
Và rồi đây với tâm hồn thống hối
Với niềm vui mừng kỷ niệm phục sinh
Xuân hân hoan đem tất cả tâm tình
Dâng lên Chúa để thay lời cảm tạ.
Ba lăm năm mùa hè trời oi ả
Tiếng ve sầu ra rả dội vào tai
Biết làm chi qua những tháng ngày dài
Đây nhà Chúa, khách thừa lương vắng vẻ.
Mùa huệ nở tháng năm dành cho Mẹ
Tháng đèn hoa dâng kính Mẹ sớm chiều
Lòng bội bạc của những đứa con yêu
Khiến tim Mẹ thâm bầm và rướm máu .
Mùa phượng nở đỏ rực trời tháng sáu
Tháng bướm ong bay nhộn nhịp xôn xao
Khiến Thánh Tâm đau khổ biết dường nào
Vườn nho Chúa thiếu bàn tay săn sóc.
Ba lăm năm mùa thu đầy tang tóc
Cảnh sinh ly tử biệt nhớ không nguôi
Mộ thời gian dù tất cả chôn vùi
Mà hình bóng dấu yêu không xoá hết.
Thu ơi hỡi ! thu về gieo ý chết
Trong đường gân khô máu lá vàng rơi
Trong quả tim buốt lạnh giữa dòng đời
Trong ánh mắt người thân chào vĩnh biệt.
Ba lăm năm mùa đông tập quen biết
Những con người đói rét sống lề đường
Những trẻ em mất mẹ thiếu tình thương
Những bà lão cô đơn không chốn trọ.
Mùa vọng về trời than mây khóc gió
Cho kiếp người thêm lạnh lẽo xót xa
Cho noel thêm ý nghĩa đậm đà
Cho hang đá Bêlem thêm u tối.
Cho sao lạ mọc soi đường dẫn lối
Cho mục đồng tìm gặp Chúa Hài nhi
Cho Ba Vua nghe tiếng gọi ra đi
Cho thiên hạ biết Tin Mừng xuân mới.
Chúa ôi ! Ba mươi lăm năm chờ đợi
Mõi mòn từ Xuân Hạ đến Thu Đông
Chờ đợi con vác Thánh giá về trồng
Trên ngôi mộ chôn sâu đời tội lỗi.
Ôi ! Chúa ôi ! con đau buồn quá đỗi !
Nước mắt đâu rửa sạch vết thương lòng !
Biết lấy gì gọt nạo những rêu rong ?
Mọc như nấm trong hồn trong xương tuỷ.
Dưới gối Mẹ con gục đầu rên rỉ
Nghe quả tim bị nghìn mũi kim châm
Lệ thương đau từng giọt nhỏ khôn cầm
Từng sớ thịt run lên như điện giật.
Giữa dêm khuya bao lần con thức giấc
Lòng nát tan xao xuyến chuyện ngày xưa
Tình Mẹ thương đền đáp mấy cho vừa
Trước ảnh Mẹ con cúi đầu lạy Mẹ.

9. DÂNG HOA CHO MẸ

Đây hương lòng giới thiếu nhi
Các em ngoan ngoãn nhu mì dâng lên
Đây hương tình giới thanh niên
Đốt lên thành nén hương nguyền Mẹ ơi!
Đây hương yêu cả cuộc đời
Gia đình bạn trẻ thay lời tạ ân.
Đây hương cay mắt tử thần
Ong bà lão cắm mộ phần mai sau
Dâng lên với đĩa trầu cau
Với bao nến đã úa màu thời gian
Giờ đây ngày đã gần tàn
Chúng con thắp nến chúc an Mẹ hiền
Cuộc đời lắm nỗi truân chuyên
Đèn lòng quyết giữ vẹn tuyền trên tay
Dù cho ngọn nến lung lay
Tình con Mẹ chẳng đổi thay bao giờ
Dù cho ngọn nến lu mờ
Lửa tim cháy sáng bàn thờ lòng con
Dù cho ngọn nến hao mòn
Lòng con yêu Mẹ sắt son một lòng
Xin dâng Mẹ nến sáp ong
Lấy từ nhuỵ mật tinh ròng muôn hoa
Nói lên tình nghĩa đậm đà
Của đoàn con cái trước toà Mẹ yêu
Chúng con yêu Mẹ thật nhiều
Dâng hoa muôn sắc bao nhiêu cho vừa
Chúng con nhớ Mẹ sớm trưa
Nhớ Mẹ khi nắng khi mưa mỗi ngày
Khi cầm tràng hạt trên tay
Khi nhìn theo cánh mây bay trên trời
Để lòng nhớ Mẹ khắp nơi
Để tâm suy nghĩ những lời Mẹ ban
Đời con như đoá hoa tàn
Xin dâng cùng với muôn vàn khổ đau
Đời con như cánh bông lau
Không hương, không sắc, không màu Mẹ ơi!
Chiều theo gió cuốn bụi đời
Trôi theo giòng chảy xa rời cố hương
Bấy lâu lạc lối lầm đường
Nhờ Mẹ cứu giúp, Chúa thương đem về
Đời con tội lỗi nặng nề
Bao phen đánh mất lời thề quyết tâm
Bì xiềng xích, bị giam cầm
Trong tay ma quỉ, dưới gầm trời đêm
Hồng ân nhờ Mẹ giúp thêm
Cho lòng con bớt yếu mềm từ đây…
Từ đây ơn thánh dẫy đầy
Như sương sa xuống vũng lầy tội khiên
Như nguồn suối chảy triền miên
Cuốn trôi, rửa sạch nghiệp duyên người đời.
Đây là năm thánh bạn ơi!
Đây là thời khắc ơn trời thông ban
Qua tay Mẹ Chúa Thiên Đàng
Như mưa trút xuống chứa chan dồi dào
Mẹ ơi! Từ chốn trời cao
Mẹ nhìn thấy đứa con nào khô khan
Tâm hồn xao xuyến bất an
Nhu hoa trước gió héo tàn trên cây
Hiện đang có mặt ở đây
Hay đang mắc bẫy sa lầy nơi nao
Xin đừng từ bỏ người nào
Một xin Mẹ hãy ngọt ngào ủi an
Đời dù sóng gió gian nan
Mẹ thương Mẹ sẽ bình anh đem về
Để cùng sum họp một quê
Để lòng Mẹ bớt não nề vì con.


10. CÁT MINH SƠN

Ngọn núi kéo muôn ơn
Cho các thầy ẩn sĩ
Cho những ai chuẩn bị
Bắt thang lên núi Chúa
Cho những người chọn lựa
Hành lý về quê trời.
Cát – Minh sơn ơi !
Đã có một thời
Mưa gội nắng phơi
Cho đỉnh cao bớt nhọn
Cho mắt trần thấy ngọn.

Muốn vươn lên
Mặc gió thổi sấm rền
Mặc chông gai sỏi đá
Ghi nhận từng cành lá
Cuộc đời gió đạp sóng vùi
Đường lên núi Chúa đủ mùi đắng cay.

Nhớ lại ngày
Elia dựng bàn thờ dâng lễ
Núi Cát – minh bốc lửa cháy vàng trời
Đốt tiêu tan lễ vật biến thành hơi
Cho dân Chúa thấy quyền năng của Chúa
Vừa run sợ vừa đồng thanh ca múa
Tiếng hoan hô như sấm nổ sét rền.
Kể từ đây Núi Thánh được ghi tên
Vào trang sử oai hùng dân Thiên Chúa
Ngàn năm qua với cỏ xanh lá úa
Núi Cát – minh vẫn sừng sững tươi xinh
Như chờ đợi một tia sáng bình minh
Như trông mong một bóng hình siêu thoát
Rồi một ngày gió xuân về thơm mát
Đón chào Mẹ giữa tiếng hát muôn chim
Đỉnh Cát - minh trong giây phút lắng chìm
Nghe lời Mẹ từ quả tim nồng nhiệt
Chan chứa yêu thương, trầm buồn thê thiết :
“Hỡi đoàn con bé nhỏ dại khờ !
Biển gian trần đầy sóng gió nguy cơ
Có nhận Mẹ làm ngôi sao Bắc Đẩu ?
Có nhờ Mẹ thả neo cho thuyền đậu
Bến Nước Trời chẳng tiến được bình an ?
Các con ơi ! Mẹ đau khổ muôn vàn !
Khi làm Mẹ dưới chân cây Thập Giá.
Trên đồi Can – vê, một chiều tàn tạ
Mẹ nhặt từng giọt máu của Con yêu
Hoà với dòng nước mắt Mẹ chảy nhiều
Tạo cho các con nguồn ơn cứu độ
Than ôi!
Bởi vì ai mà con Mẹ đau khổ
Bởi vì ai mà trời đất thảm sầu
Bởi vì ai mà tim Mẹ gươm thâu
Mà lòng Mẹ từng phút giây rướm máu
Từng phút giây cả buổi chiều thứ Sáu
Khăn trùm đầu biến thành mẫu khăn tang.
Gói mão gai và đinh sắt phủ phàng
Mẹ trao lại cho đoàn con yêu dấu
Từ ngày ấy mẹ thành bà khổ mẫu
Của đoàn con tội lỗi khắp trần gian
Tai không ngừng vang dộ tiếng thở than
Mắt không ngừng tuôn trào dòng lệ đắng.
Hỡi đoàn con!
Bệnh vì sương vì nắng
Hãy mang lấy áo ngự nhiệt, ngự hàn
Đây là loại áo giáp chống Sa-tan
Mẹ ban cho để phòng thân tự vệ
Được bình an sợ khỏi lầm quỉ kế
Của kẻ thù mưu hại phút lâm chung
Ngày Mẹ con hy vọng được trùng phùng
Đưa nhau tiến về cõi trời vinh phúc.
Kỷ niệm ngày 16/07/1251
Mẹ đã hiện ra với thánh Simon cột
Và hứa cứu khỏi lửa hoả ngục
những ai mang áo Mẹ

11. ẢNH MẸ LAVANG

Đây La vang đất lành in gót Mẹ
Hai tăm năm dấu vết vẫn còn nguyên
Dưới bầu trời khói lửa hay lặng yên
Ảnh tượng Mẹ vẫn chói ngời rực rỡ.

Con cái Mẹ cứ đến mùa hoa nở
Kéo nhau về sống bên Mẹ vài ngày
Đem hết tâm tư khát vọng trình bày
Nhờ ơn Mẹ giúp chỉ đường sám hối

Mẹ thấy chăng những đứa con tội lỗi
Xác nặng nề hồn xác tả tơi
Mang về đây những bộ mặt chán đời
Với đôi mắt in sâu màu tuyệt vọng.

Xin Mẹ thương những đứa con lạc lõng
Chạy về đây tìm Mẹ để nương thân
Chạy về đây tìm phương thuốc an thần
Xin Mẹ nhận vào cánh tay từ ái.

Xin dâng Mẹ những tâm hồn hối cải
Suốt cuộc đời quên mất hướng trời cao
Chỉ tìm đường hoả ngục đặt chân vào
Giờ sau hết mắt nhìn lên ảnh Mẹ

Lòng tan nát vì lương tâm xâu xé
Niềm cậy trông vào Mẹ nở trên môi
Còn gì đâu? Năm tháng đã qua rồi
Dòng tội lỗi trôi theo dòng lệ đắng

Xin dâng Mẹ những tâm hồn trinh trắng
Như huệ tươi, như ánh sáng trăng rằm
Trọn cuộc đời không tính tháng tính năm
Dâng cho Mẹ một lần là mãi mãi.

Xin đâng Mẹ những đứa con thơ dại
Thả hồn bay theo cánh bướm cánh hoa
Biết ngừng chơi chạy theo má theo ba
Đang hồn nhiên chắp tay quì nhìn Mẹ

Xin dâng Mẹ những cuộc đời tươi trẻ
Đang phân vân đứng trước ngã ba đường
Dễ bị đời lôi kéo đến ngàn hương
Không nhờ Mẹ sẽ có ngày mất hướng.

Xin dâng Mẹ những bậc làm gia trưởng
Sớm chiều theo gương Mẹ biết hy sinh
Biết quan tâm đến hạnh phúc gia đình
Để ngày ngày an vui thờ kính Mẹ.

15.08.1998


12. THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU (1)

(Lời than thở)

Con ơi! Hoàng hôn về
Bóng tối sắp bao trùm cảnh vật
Gió heo may phơ phất
Như rải ánh trăng khắp núi đồi
Bầu trời sao đã hiện một vài ngôi
Trông lạnh lẽo xanh xao không hơi ấm
Màn đêm rơi chầm chậm
Xoá từ từ màu sắc của không gian
Và âm thanh náo động của rừng ngàn
Cả vũ trụ chết dần trong im lặng
Con nghe chăng tiếng thở dài xa vắng
Con nghe chăng tiếng nấc giữa đêm buồn
Con nghe chăng những giọt lệ sầu tuôn
Như sương rơi tí tách trên cây lá
Khóc cho những cuộc đời tàn tạ
Những cuộc đời chìm giữabến mê
Những cuộc đời quên mất hướng trở về
Cha xót thương và sẽ còn khóc mãi
Con biết chăng Quả Tim Cha từ ái
Đã khắc sâu tên tuổi đứa con hoang
Đã in sâu hình bóng kẻ lạc đường
Và khắc khoải đợi chờ ngày trở lại!
Con biết chăng lòng người Cha từ ái
Quảng đại hơn biển rộng trời cao
Không bao giờ từ bỏ đứa con nào
Dù nó bất hiếu phản bội
Dù nó tràn đầy tội lỗi
Miễn là biết hối cải ăn năn
Biết chân thành giữ giới răn
Và dứt khoát tránh xa đường lầm lạc
Con biết rằng Cha quý từng hạt cát
Đồi Cal-vê thấm máu nước Tim Cha
Linh hồn con hơn cả vạn sơn hà
Cha trút hết máu mình ra cứu chuộc
Cha không yêu quý con hơn sao được
Biết bao giờ con hiểu tấm lòng Cha
Một tấm lòng chỉ biết thứ tha
Chỉ biết yêu thương và tha thứ
Con yêu ơi! Thế gian đầy sự dữ
Đầy gông cùm xiềng xích của quỷ ma
Mưu mô xảo quyệt mánh khoé gian tà
Gieo cạm bẫy dây đường không lối thoát
Thảm thương thay những con chiên xiêu lạc
Bị lưới giò ma quỷ hãm từ lâu
Không nhờ ai cứu vớt không nguyện cầu
Sống như kẻ chơi vơi trong tuyệt vọng
Cha ngày đêm than thở nôn nóng
Trông có người nghe tiếng gọi lòng Cha
Đến cứu nguy đem chiên lạc về nhà
Để cùng nhau hiệp vầy trong nước Chúa
Con ơi! Có những lúc chiều vàng lá úa
Anh đèn cầy leo lét trên bàn thờ
Gợi cho Cha muôn ý niệm sầu mơ
Lòng người thế phải chăng là như thế?
Tham lam kiêu ngạo bạc tình khôn xiết kể
Tìm đâu ra một người bạn tâm giao
Tìm đâu ra ánh mắt đẹp ngọt ngào
Có thể gởi nụ cười yêu trong sáng
Tìm ra đâu một quả tim hùng tráng
Biết hy sinh mang thánh giá cuộc đời
Không vì yêu mà sợ bỏ rơi
Không mặc cảm vì sắc màu tội lỗi
Luôn khiêm nhượng và thành tâm cải hối
Tìm thấy Cha nơi trú ẩn bình an
Đặt niềm tin yêu một cách vẹn toàn
Cũng là cách tạo cho Cha niềm an ủi.


13. MỪNG THỌ MẸ 2000 TUỔI (1984.)

Hai mươi thế kỷ Mẹ chào đời
Năm sắc mây hoa ửng rạng trời
Phượng múa oanh ca mừng phước Mẹ
Chuông ngân trống giục tỉnh hồn người .
Tâm tình diễn tả không thành nét
Miệng lưỡi tôn vinh chẳng đủ lời
Thắp nến đốt hương mừng thọ Mẹ
Hương tàn nến lụn, ý chưa vơi !..

14. THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU (2)

Đây quả tim rực lửa cháy bừng bừng
Như muốn đốt tiêu tan bầu vũ trụ
Đây tình yêu cuồng mạnh như nước lũ
Muốn dâng lên tràn ngập cả không gian
Cho muôn dân muôn nước khắp vũ hoàn
Đắm đuối chìm vào đại dương tình ái
Đây quả tim ngày đêm luôn khắc khoải
Luôn khổ đau tìm kiếm một tình yêu
Luôn đợi chờ từ sáng đến chiều
Như sương phụ mỏi mòn bên song cửa
Đây quả tim cháy bùng như biển lửa
Mãnh liệt yêu, yêu đến chết vì yêu
Yêu triền miên như sóng nước thuỷ triều
Lên xuống nâng niu mãi bờ cát trắng
Yêu thầm lặng như mặt hồ thanh lặng
Chờ heo may tha thiết gợi sầu mơ
Yêu như hoa hé nụ dưới trăng mờ
Đón sương sớm để phơi bày tâm sự
Yêu cho đời viết nên trang tình sử
Tình bao la hơn biển rộng sông dài
Tình thơm tho hơn hoa cúc, hoa mai
Tình nồng thắm hơn hoa hồng, hoa huệ
Tình sâu đậm mặn mà khôn xiết kể
Như chim liền cánh, như cây liền cành
Như uyên ương quấn quít giữa rừng xanh
Như gà mẹ ấp yêu con dưới cánh
Yêu nồng nhiệt đời có gì so sánh
Thiết tha hơn yêu cha mẹ yêu con
Tình cha dù cao như núi như non
Nghĩa mẹ dù lớn như trời như biển
Nhưng sự đời chóng qua như bay biến
Cuộc tình nào cũng giống như phù vân
Hỡi con cái gian trần
Hỡi con người trải qua các thời đại
Hãy dẹp bỏ tính kiêu căng tự ái
Nghe rõ chăng lời của Chúa tình thương
Vừa đắng cay vừa dịu ngọt lạ thường
Hãy cho thấm vào buồng tim lá phổi
Lời tình yêu cũng là lời trăng trối
Hãy khắc sâu vào mạch máu đường gân
Hãy cao rao lớn tiếng giữa gian trần
Cho chấn động từ chân tơ kẻ tóc
Những con người thiếu tim thiếu óc
Những con người sơ cứng đã thành băng
Những con người miệt mài với gió với trăng
Và đeo đuổi theo ánh hoa ánh nắng
Cho cuộc đời ngày càng thêm trĩu nặng
Ngày càng thêm chìm ngập giữa bùn nhơ
Ngày càng khô khan lạt lẽo hững hờ
Muốn dập tắt lửa tình yêu Thiên Chúa
Muốn trở nên con người bị nguyền rủa
Bị vất vào nơi khóc lóc nghiến răng
Khiến Thánh Tâm Chúa đau khổ vô ngần
Như bị gai nhọn đâm muôn ngàn mũi
Không kẻ quan tâm không người an ủi
Gây nỗi đau khủng khiếp đến rợn người
Còn tìm đâu cho Chúa được một lời
Để xoa dịu nỗi đau buồn chan chứa
Quả tim nào còn nhen được tia lửa
Tia lửa yêu của Thiên Chúa Tình Yêu
Để biết yêu và biết chết thật nhiều
Chết cho thế gian chết cho tội lỗi
Và biết sống chỉ để mà sám hối
Biến cuộc đời thành của lễ hy sinh
Dâng cho Chúa với tất cả tâm tình
Và quảng đại dấn thân không dừng bước
Thánh Tâm Chúa Giêsu hằng mong ước
Được mọi người chia sẻ mối mối buồn thương
Được mọi người nhận thấy rõ con đường
Đường sự thật cũng là đường sự sông
Đường tin yêu cũng là đường hy vọng
Đưa đến ơn Cứu Độ là Chúa Kitô.

PHỤ LỤC II

MỘT SỐ NHẠC PHẨM THÁNH CA

Mời tải file PDF: