NGÀY NÀO CHO CHA?
●Francis Assisi Lê Đình Bảng.
“Công Cha như núi Thái Sơn
Công Cha, nghĩa Mẹ, ơn Thầy”.
1. Chúng ta đọc và nghe hoài những câu ca cửa miệng này. Thực tế, trong cõi thế gian và đời sống thường ngày, hình ảnh người cha không có bao nhiêu, chẳng nhiều nhặn gì, nếu đem so với người Mẹ. Rất công bằng và không ai tranh chấp gì. Người ta ngợi ca đủ mọi thứ có mặt ở trên đời này. Cao xa thì tổ quốc, quê hương, dòng dõi. Vừa vừa, là hạnh phúc, tình yêu, hôn nhân. Thậm chí, một con vật, một sự vật tầm thường. Như, con chó, con ngựa, viên đá, que diêm, thỏi chocolate, cây kem, cục kẹo… Văn học nghệ thuật thế giới không thiếu gì những mỹ từ chỉ người Mẹ. Cũng hợp lý thôi. Đơn giản, vì Mẹ phải gần gũi cưu mang, sinh thành, bú mớm cho con. Trong khi người Cha thường vắng nhà, bươn trải ngoài đời, bận rộn lo mưu sinh cho gia đình, đến nỗi, quên cả đời mình.
Nơi các tôn giáo, hình tượng người Cha càng sâu đậm, rõ nét hơn. Nho giáo và định chế phong kiến vốn “trọng nam, khinh nữ”. Người Cha - Phụ - uy quyền chỉ sau Vua, Quân và Thầy - Sư. Thiên Chúa giáo thì tôn thờ Đức Chúa Trời là “Cha muôn loài, muôn vật”. Lạy Cha chúng tôi ở trên trời. Thần thoại Hy Lạp và La Mã suy tôn quyền năng của thần Zeus, chúa tể của các thần linh, một người đàn ông chính hiệu, không lẫn vào đâu được. Hẳn ta ắt chưa quên chuyện nàng Antigone trong truyền thuyết Hy Lạp và trong vở kịch của triết gia cổ đại Sophocle đã liều thân dắt Cha bị mù loà lang thang trên đường phố Colone. Thuý Kiều của Nguyễn Du, vì chữ Hiếu mà bán mình chuộc Cha; để rồi từ đó, tấm thân và cuộc đời phải gánh chịu bao nhiêu nỗi đoạ đày, hoa vùi liễu dập suốt mười lăm năm đoạn trường, ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh.
Sách vở Đông Tây, kim cổ đại loại là thế.
Chuyện ở nước Mỹ cũng không hề đơn giản. Năm 1508, người Bồ và Tây Ban Nha đã mừng ngày “ngày của Cha” vào 19.3 lễ thánh Giuse, gọi là Nutritor Domini - Người Nuôi Chúa. Chính họ đã đem ngày này vào đất Mỹ. Năm 1901, bà Sonora Smart Dodd, vì báo hiếu, đã muốn đấu tranh bằng mọi cách để có một “ngày cho Cha”. Phải mất 10 năm ròng rã. Được biết, Cha bà là William Smart, sau khi vợ - tức Mẹ bà - mất, đã quyết ở vậy, gà trống nuôi 6 người con. Bà Dodd, khi trưởng thành, nhớ đến Cha, muốn ca tụng sức mạnh, tinh thần và công lao dưỡng dục của Ông. Ngày 19 tháng 6 năm 1910, “ngày của Cha” lần đầu tiên chính thức được cử hành tại Spokane, tiểu bang Washington cùng lúc với một số thành phố khác của Mỹ quốc. Mãi 14 năm sau, 1924, Tổng Thống Coolidge mới ủng hộ ý kiến mừng “Ngày Của Cha” cho toàn nước Mỹ. Cuối cùng, năm 1966, Tổng Thống Lyndon Johnson ký tuyên ngôn chính thức chọn ngày Chúa Nhật thứ ba của Tháng 6 làm “Ngày Của Cha” trên toàn quốc.
2. Còn Việt Nam ta thì sao?
“Công Cha như núi Thái Sơn”.
Câu ca dao ngàn đời đó, nhắc người làm con bổn phận đối với Cha Mẹ. Mẹ là “nghĩa”, dòng nước êm mát, bao dung. Cha là “Công” là núi cao sừng sững. Hình ảnh Cha uy nghi, như cây tùng, cây bách, cây thông trên đầu non. Cha là trượng phu, quân tử, một mình đối diện với đời, với phong ba, bão táp, để “đứng giữa trời mà reo”. Công lao của người Cha vô lượng đất trời, không có gì sánh bằng. Trong lúc Mẹ ở nhà chăm sóc đàn con thì Cha phải lăn lộn ra đời, làm việc, kiếm sống vất vả, ngược xuôi. Cha không than phiền, bởi Cha hiểu đó là nhiệm vụ thiêng liêng của Cha, một người đứng mũi chịu sào, trưởng gia đình, một người đàn ông có bổn phận nuôi sống cả nhà. Cha có mặt trong mọi sự kiện và biến cố của con. Một ngày làm việc mệt mỏi, trở về nhà, Cha vẫn không quên hỏi han việc học hành, giúp con làm bài, đọc sách, tập những thói quen lành mạnh trong nhà… để Mẹ rảnh rang bếp núc, may vá, nấu nướng bữa cơm gia đình được cơm lành canh ngọt. Cũng như Mẹ, khi con giỏi ngoan, Cha cũng khen thưởng, khuyến khích. Làm sao con quên được? Rồi ngày con kia, bắt đầu lớn khôn, Cha cùng Mẹ cho con những kinh nghiệm bản thân để vào đời. Cho con sự bất khuất, lòng tự trọng, sức mạnh tinh thần và cả sự khôn ngoan trước bao cảnh đời éo le, đầy cạm bẫy.
Trong chiến tranh, khi tổ quốc lâm nguy, Cha từ biệt gia đình và cuộc sống yên ả, lên đường nhập ngũ. Giữa mũi tên, hòn đạn, gian lao, nguy hiểm và cả cái chết thường trực, cận kề. Mẹ và các con ngày đêm nguyện cầu cho Cha được trở về bình an. Một lần, Cha còn nhớ rất rõ. Hôm ấy, cả nhà ta u ám, nặng nề. Ba bị thương nặng. Mẹ và các con đã khóc bao nhiêu là nước mắt. May là trời thương cho Cha còn sống sót. Nước mắt nào còn lại để nhỏ xuống cho Cha khi chỉ ít năm sau đó, vào một sáng mùa Xuân kinh hoàng, đất nước phải rơi vào tay giặc thù? Còn đau đớn nào hơn trước hình ảnh Cha nghẹn ngào, tức tưởi cởi bỏ áo trận bạc màu, giã từ vũ khí, bất lực nhìn qua khung cửa đoàn xe tăng bạo tàn chạy ngang thành phố, nghiền nát từ đây mọi hạnh phúc, hy vọng và ước mơ. Của Cha, của Mẹ, của các con. Và của cả một dân tộc! Cũng như trăm nghìn đồng đội khác, Cha bị đẩy vào các trại tù cải tạo từ Nam ra Bắc, lê tấm thân đoạ đày suốt những tháng năm tuyệt vọng, cơ cực, cay đắng, tủi nhục trăm bề. Sống sót trở về, thân tàn ma dại, nhưng ý chí vẫn không phôi pha. Cha quyết tâm làm lại cuộc đời, quên đi quá khứ vàng son. Vì Mẹ . Vì các con. Cảm thương biết bao đồng đội đã bỏ xác mịt mù nơi các trại tù khốn khổ.
Đến xứ người. Cứ tưởng, đời sẽ khác.
Con biết không, tất cả bắt đầu lại từ số không.
Mẹ và các con, cũng như Cha, ngôn ngữ bất đồng, tay trắng và tay trắng. Nhưng Cha không than thở, không thương tiếc dĩ vãng vàng son, không buồn phiền về những năm tháng tù đày khổ nhục của một kẻ bị bức tử, bị ép phải đầu hàng, thua cuộc. Cha đã đứng thẳng trong thế nghiêm, như cây thông trên núi Thái Sơn, nhìn về phía trước. Bao nhiêu cơ hội vụt qua. Cuối cùng, vì Mẹ, vì các con, Cha chấp nhận làm một công việc không tên, lương thấp để nuôi sống gia đình trong cơn khốn cùng.
Tác giả: Francis Assisi Lê Đình Bảng

